Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 93/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 6 - 2025

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Lê Văn Công
  • Bà Trần Ngọc Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Uyên- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đào Thị T, sinh năm 1980; thường trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Ô22 DC 19 khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1977; thường trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Ô22 DC 19 khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên lạc: LOT3-DC 65 NA1, KDC V, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 15/7/2024, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Đào Thị T trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị T và ông Nguyễn Văn K tự nguyện tìm hiểu nhau, tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 20/5/2021. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã đánh nhau khiến cho cuộc sống chung không hạnh phúc. Ông K sống không có trách nhiệm với gia đình, không phụ giúp kinh tế gia đình, đi làm bao nhiêu đều dùng vào việc đánh bạc, mọi chi tiêu trong gia đình đều do bà T lo liệu, gánh vác, gia đình đã động viên, khuyên bảo nhưng đã vượt quá mức chịu đựng của bà. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn K.

+ Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Văn D, sinh ngày 07/3/2000 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 10/12/2008. Bà Thân yêu C được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Văn T1, sinh ngày 10/12/2008, không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con chung Nguyễn Văn D, sinh ngày 07/3/2000 đã trên 18 tuổi không yêu cầu giải quyết.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

đồng thời bà T có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn K trình bày: Thống nhất lời trình bày của bà T về thời gian kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng cũng có cãi nhau nhưng đều là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, bản thân ông vẫn làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha, vẫn đi làm để phát triển kinh tế gia đình, lợi nhuận mang về đều đưa cho bà T quản lý, bản thân ông không nghiện các chất kích thích. Nay bà Thân yêu C ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn, kể cả trong trường hợp bà T cương quyết ly hôn.

+ Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Văn D, sinh ngày 07/3/2000 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 10/12/2008. Trường hợp toà án giải quyết cho bà T được ly hôn thì ông yêu cầu được nuôi cháu T1, không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con chung Nguyễn Văn D, sinh ngày 07/3/2000 đã trên 18 tuổi không yêu cầu giải quyết.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

đồng thời ông K có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn K có sinh sống tại địa chỉ Ô22 DC 19 khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương và địa chỉ nơi làm việc tại LOT3-DC 65 NA1, KDC V, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, yêu cầu giải quyết con chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung; nợ chung. Như vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Quá trình tố tụng nguyên đơn và bị đơn đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông K tự nguyện tìm hiểu chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa theo giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 20/5/2021, do đó hôn nhân của bà T và ông K là hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn vợ chồng bà T, ông K tại địa phương tuy nhiên địa phương không rõ. Bà T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã đánh nhau khiến cho cuộc sống chung không hạnh phúc. Ông K sống không có trách nhiệm với gia đình, không phụ giúp kinh tế gia đình, đi làm bao nhiêu đều dùng vào việc đánh bạc, mọi chi tiêu trong gia đình đều do bà T lo liệu, gánh vác, gia đình đã động viên, khuyên bảo nhưng đã vượt quá mức chịu đựng của bà. Ông K trình bày quá trình chung sống vợ chồng cũng có cãi nhau nhưng đều là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, bản thân ông vẫn làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha, vẫn đi làm để phát triển kinh tế gia đình, lợi nhuận mang về đều đưa cho bà T quản lý, bản thân ông không nghiện các chất kích thích. Con chung Nguyễn Văn T1 trình bày “cháu thấy bố mẹ hay cãi vã, đánh nhau làm cho cuộc sống luôn căng thẳng, không có không khí gia đình, bố sống không có trách nhiệm, không phụ giúp kinh tế, đi làm được bao nhiêu đều dùng đi đánh bạc, mọi chi tiêu mẹ phải gánh vác”. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà T, ông K không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc, do đó có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà T về việc ly hôn với ông K.

Về con chung: Có 02 con chung Nguyễn Văn D, sinh ngày 07/3/2000 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 10/12/2008. Cả bà T và ông K đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Văn T1, sinh ngày 10/12/2008, không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con. Xét con chung Nguyễn Văn T1 có nguyện vọng được sống với mẹ nên Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Văn T1, sinh ngày 10/12/2008 cho bà Đào Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục, bà T không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con nên ông K không phải cấp dưỡng nuôi con

Đối với con chung Nguyễn Văn D, sinh ngày 07/3/2000 đã trên 18 tuổi không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 56; 57 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn K.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn K.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn T1, sinh ngày 10/12/2008 cho bà Đào Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục, bà T không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con nên ông K không phải cấp dưỡng nuôi con

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con chung Nguyễn Văn D, sinh ngày 07/3/2000 đã trên 18 tuổi không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Đào Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000650 ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS tp Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Nhâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 93/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T-K ly hôn, tc nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger