TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG H TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 19 – 6 – 2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG H, TỈNH B
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- – Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Như Ý
- – Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà: Cao Thị Lệ Pha
- Bà: Đỗ Kim Phụng
- – Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Anh, Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Đông H.
- – Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duy, kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông H, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 231/2025/TLST – HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 4 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- – Nguyên đơn: Chị Thái Hồng T, sinh năm 1990
- + Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện Đông H, tỉnh B
- – Bị đơn: Anh Tô Văn T1, sinh năm 1977
- + Địa chỉ: Ấp G, xã Đ, huyện Đông H, tỉnh B
- (Chị T, anh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/05/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thái Hồng T trình bày: Vào năm 2021 chị T, anh T1 tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2025 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, không còn quan tâm đến nhau, cuộc sống vợ chồng không còn tồn tại và không thể hàn gắn được, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn đối với chị Oanh. Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Thái Tuyết Thư, sinh ngày 26/12/2023, hiện con chung đang sống với chị T, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Về nợ chung, tài sản chung: Không có, không cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Tô Văn T1: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T1 theo quy định của pháp luật, anh T1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định tại Điều 177, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
– Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H:
- + Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định pháp luật.
- + Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 14, 53, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Thái Hồng T và anh Tô Văn T1; Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Thái Tuyết Thư, sinh ngày 26/12/2023 cho chị Thái Hồng T nuôi dưỡng, tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Tô Văn T1; Về nợ chung, tài sản chung: Không có, không đặt ra; Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Thái Hồng T phải nộp theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đã trình bày và có yêu cầu Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hôn nhân: Chị Thái Hồng T và anh Tô Văn T1 tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 2021, nhưng không đăng ký kết hôn. Việc chị T, anh T1 chung sống cùng nhau mà không có đăng ký kết hôn là không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và pháp luật không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Thái Hồng T và anh Tô Văn T1.
[2]. Về con chung: Theo chị T, anh T1 xác định vợ chồng có 01 người con chung tên Thái Tuyết Thư, sinh ngày 26/12/2023, hiện con chung đang sống với chị T, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi, anh T1 cũng đồng ý giao con cho chị T nuôi dưỡng, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của anh chị cần được ghi nhận. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T, anh T1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về phía bị đơn anh Tô Văn T1: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T1 theo quy định của pháp luật, anh T1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định tại Điều 177, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4]. Qua ý kiến đề xuất xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H, HĐXX xét thấy là có căn cứ nên được chấp nhận.
luật.
[5]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm các đương sự phải nộp theo quy định của pháp
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 14, 53, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Thái Hồng T và anh Tô Văn T1.
- Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Thái Tuyết Thư, sinh ngày 26/12/2023 cho chị Thái Hồng T nuôi dưỡng, tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Tô Văn T1.
- Về tài sản và nợ chung: không đặt ra.
- Về án phí:
Sau khi ly hôn anh Tô Văn T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được cản trở.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm chị Thái Hồng T tự nguyện nộp 300.000đ, chị T đã dự nộp 300.000₫ ngày 20/5/2025, lai thu số 0006830 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông H, được chuyển thu án phí hết.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày toà tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Như Ý |
Bản án số 93/2025/HNGĐ – ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG H, TỈNH B về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 93/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG H, TỈNH B
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thái Hồng Tho - Tô Văn Tý
