Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93 /2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18-02-2025

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thuỳ Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai

Bà Trần Thị Thanh Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Phạm Thanh Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 792/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 403/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/QÐST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1975

HKTT: Số B ngõ A Đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1974

HKTT: Số B ngõ A Đường L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện; Bản tự khai và các văn bản trình bày tiếp theo tại Tòa nguyên đơn – bà Đỗ Thị Thu H trình bày:

- Về tình cảm: Bà và ông Nguyễn Đức L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội ngày 21/10/1995. Sau khi kết hôn, ông bà sinh sống tại địa chỉ số B tổ B phường L (nay là số B ngõ A đường L, phường L), quận Đ, Thành phố Hà Nội. Quá trình vợ chồng chung sống, bà H luôn cố gắng vun vén cho cuộc sống gia đình, nhưng trái ngược với sự cố gắng của bà, ông L luôn không có trách nhiệm với gia đình, ham chơi. Dần dần, trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung, quan điểm sống khác biệt và không có sự chia sẻ. Bà và ông L đã sống ly thân với nhau được khoảng 3 năm, mặc dù vẫn sống chung trong một nhà nhưng ở riêng phòng, khác tầng. Nay bà xác định tình cảm giữa bà và ông L không còn, không có khả năng đoàn tụ, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.

- Về con chung: Bà và ông L có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Hoài L1, sinh ngày 01/3/1996; Nguyễn Đức H1, sinh ngày 13/11/1999 và Nguyễn Tùng L2, sinh ngày 30/11/2013. Ly hôn, bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng. Cháu L1, H1 đã trưởng thành, bà không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về vay nợ chung: Bà không yêu cầu tòa án giải quyết.

Ngoài những vấn đề trên, bà không yêu cầu tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

Đối với bị đơn là ông Nguyễn Đức L, Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H2 không đến Tòa để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự nên Tòa án không thể lấy được lời khai của ông L cũng như tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện, cụ thể:

- Về tình cảm: Bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông L.

- Về con chung: Bà H yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tùng L2 và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Bà H không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. HĐXX công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm ý kiến:

Tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa xét xử ngày hôm nay Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự tố tụng mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định, nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng; bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

Nội dung: Sau khi phát biểu đánh giá các tình tiết của vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 28, 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 24, Điều 37, Điều 56, Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết 326 về án phí lệ phí:

Đề nghị HĐXX:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H. Bà H được ly hôn ông L.

Về con chung: Giao cháu L2 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Bà H không yêu cầu giải quyết nên không xét;

Về nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên không xét;

Án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

I. Về tố tụng

Quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện, các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định tranh chấp giữa bà Đỗ Thị Thu H và ông Nguyễn Đức L là ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thẩm quyền: Bị đơn – ông Nguyễn Đức L có hộ khẩu thường trú tại số B tổ B phường L (nay là số B ngõ A đường L, phường L), quận Đ, Thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền.

Thủ tục: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bao gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm; Quyết định hoãn phiên tòa đối với ông Nguyễn Đức L. Nhưng đến nay, ông L không có phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà H và cũng không đến Tòa để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Vì vậy, căn cứ theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án không tiến hành hòa giải được. Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Đức L.

II. Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Quá trình giải quyết vụ án, lời khai của bà H và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Bà H và ông L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội ngày 21/10/1995 theo Chứng nhận kết hôn quyển số 01/95 của UBND phường L. Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, xác nhận hôn nhân giữa bà H và ông L là hợp pháp.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa thể hiện: Bà H và ông L kết hôn với nhau từ năm 1995. Quá trình vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn. Theo lời khai của bà H, ông bà đã sống ly thân với nhau từ cách đây khoảng 3 năm, mặc dù vẫn sống chung trong một nhà nhưng ông bà ở riêng phòng, khác tầng, hai bên không có giao tiếp với nhau. Ngày 26/7/2024, ông bà đã nộp đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Trong đơn yêu cầu, ông bà trình bày quá trình chung sống, ông bà có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp tính cách.

3

Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, thực tế từ khoảng năm 2021 cho đến nay ông L và bà H đã sống ly thân, mặc dù vẫn sống chung trong một nhà nhưng ông bà ở riêng phòng, khác tầng, hai bên không có giao tiếp, chia sẻ với nhau. Ngày 26/7/2024 ông bà đã từng nộp đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Như vậy xác định giữa bà H và ông L không còn tồn tại cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà H khởi kiện ly hôn ông L là có căn cứ cần được chấp nhận. Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

[2]. Về con chung: Bà H và ông L có 03 con chung là Nguyễn Thị Hoài L1, sinh ngày 01/3/1996; Nguyễn Đức H1, sinh ngày 13/11/1999 và Nguyễn Tùng L2, sinh ngày 30/11/2013. Ly hôn, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L2 và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy: Cháu L2 có nguyện vọng được ở cùng với bà H. Bà H có đầy đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L2. Bà H có nghề nghiệp, có thu nhập hàng tháng ổn định và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của con chung, không làm xáo trộn cuộc sống của con chung cần phải giao cho cháu L2 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu L2, phù hợp với thực tế và phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu của bà H. Ông L được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

Đối với ông L, ông L không đến Toà để thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H cũng như không cung cấp cho Tòa án bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về điều kiện kinh tế và nơi ở ổn định để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên HĐXX không có căn cứ để xem xét.

Do bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.

Các con chung Nguyễn Thị Hoài L1 và Nguyễn Đức H1 đã đủ tuổi trưởng thành, bà H không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[3]. Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Bà H không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[4]. Về nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[5]. Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Điều 3, Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Đỗ Thị Thu H đối với ông Nguyễn Đức L.

    Bà Đỗ Thị Thu H được ly hôn ông Nguyễn Đức L.

  2. Con chung: Xác nhận bà H và ông L có 03 con chung là Nguyễn Thị Hoài L1, sinh ngày 01/3/1996; Nguyễn Đức H1, sinh ngày 13/11/1999 và Nguyễn Tùng L2, sinh ngày 30/11/2013. Giao cháu Nguyễn Tùng L2 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông L cho đến khi bà H có yêu cầu hoặc khi có quyết định có hiệu lực pháp luật khác thay thế.

    Ông L được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

    Các con chung Nguyễn Thị Hoài L1 và Nguyễn Đức H1 đã đủ tuổi trưởng thành, bà H không yêu cầu giải quyết nên không xét.

  3. Tài sản chung (động sản, bất động sản): Bà H không yêu cầu giải quyết nên không xét.
  4. Nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên không xét.
  5. Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 65030 ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa.

Bà H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự.
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thùy Dương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 93/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger