TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/6/2025 V/v "Tranh chấp ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Xuân Trị
- Ông Nguyễn Thanh Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2025/QĐXXST ngày 26 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Anh T, sinh năm 2003
Địa chỉ: Số nhà A, khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Hsu Tong Y, sinh năm 1987
Địa chỉ: Số D, lộ T, khóm A, phường B, khu P, thành phố C, Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Anh T trình bày và yêu cầu:
Tháng 5/2023, do mai mối bà và ông Hsu Tong Y tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 211, ngày 01/8/2023. Sau kết hôn, ông Hsu Tong Y về Đài Loan sinh sống nhưng không bảo lãnh bà sang Đài Loan để cùng chung sống. Bà cảm thấy tính tình giữa bà và ông Hsu Tong Y không hòa hợp với nhau, bất đồng quan điểm, ngôn ngữ. Trong thời gian ngắn chung sống với nhau, giữa bà và ông Hsu Tong Y không có con chung.
Từ sau kết hôn đến nay, bà vẫn ở Việt Nam, còn ông Hsu Tong Y chưa lần nào về Việt Nam và cũng không thăm hỏi hay liên lạc với bà.
Nhận thấy, giữa bà và ông Hsu Tong Y không thể sống chung, vì không còn tình cảm, không mang lại hạnh phúc, tương lai sau này. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hsu Tong Y.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là ông Hsu Tong Y vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được ý kiến của ông.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa: Những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử vụ án. Về nội dung vụ án nhận thấy: Do hai bên bất đồng ngôn ngữ, không hiểu nhau nên phát sinh mâu thuẫn. Sau khi kết hôn, bà T và ông Hsu Tong Y chỉ chung sống được với nhau thời gian rất ngắn rồi ly thân. Do tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận cho bà Anh T được ly hôn với ông Hsu Tong Y.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên không xem xét giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp tách thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Anh T khởi kiện xin ly hôn với ông Hsu Tong Y cư trú tại Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Hsu Tong Y đã được Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ về thời gian mở phiên tòa nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Anh T và ông Hsu Tong Y tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 211, ngày 01/8/2023 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà Anh T trình bày, sau khi kết hôn thì ông Hsu Tong Y về Đài Loan sinh sống, không bảo lãnh bà sang sống cùng. Ông Hsu Tong Y cũng không sang Việt Nam lần nào và cắt đứt liên lạc với bà, còn bà thì vẫn ở Việt Nam từ đó đến nay.
Xét thấy, giữa bà Anh T và ông Hsu Tong Y sau khi kết hôn, hai người chỉ chung sống được với nhau thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến ly thân. Bà Anh T và ông Hsu Tong Y mỗi người sinh sống ở một quốc gia, không liên lạc với nhau, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng. Do không thể duy trì quan hệ vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Anh T được ly hôn với ông Hsu Tong Y là phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Anh T khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ tách thành vụ án khác khi có yêu cầu.
[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác, chi phí thông báo tố tụng, nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Anh T.
- - Về hôn nhân: Bà Lê Thị Anh T được ly hôn với ông Hsu Tong Y.
- - Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Anh T khai không có nên không xem xét giải quyết.
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị Anh T phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm bà Anh T đã nộp theo Biên lai thu số 0000235 ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà Anh T đã nộp đủ tiền án phí.
- Về chi phí tố tụng: Bà Lê Thị Anh T phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 200.000 đồng theo Biên lai thu số 0000298 ngày 02/4/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà Anh T còn phải chịu chi phí đăng thông báo tố tụng cho ông Hsu Tong Y. Bà Anh T đã nộp đủ chi phí tố tụng.
- Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Anh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; Ông Hsu Tong Y được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, thông báo hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Bảo Anh |
Bản án số 93/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 93/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận khởi kiện
