|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 02-6-2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Phú Tâm
- Bà Châu Hồng Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 630/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/12/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/4/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc T, sinh năm 1979; thường trú: Số C khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974; thường trú: Số G đường số E, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số 273 đường ống nước thô D, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 28/11/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc T trình bày:
Bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn T1 tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận (nay là thành phố) T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 118 ngày 22/9/2000. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà sinh sống và làm việc tại thành phố D, tỉnh Bình Dương. Cả hai chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà T1 xác nhận tình cảm giữa bà và ông Nguyễn Văn T1 không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông T1.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Kim T2, sinh ngày 14/11/2001. Hiện con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Ngọc T nhưng ông T không có ý kiến cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Tòa án triệu tập ông T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia hòa giải vào ngày 20/3/2025 và ngày 15/4/2025 nhưng ông T vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến, không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ gì để thể hiện ông T đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của bà T.
- Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn T1 tại Hội Liên hiệp Phụ nữ phường B và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, bà Huỳnh Thị Ngọc T không có đơn yêu cầu Hội Liên hiệp Phụ nữ phường B tiến hành hòa giải. Hội Liên hiệp Phụ nữ phường B, thành phố D cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ, chồng bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn T1. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông, bà thì Hội Liên hiệp Phụ nữ phường B không biết được.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, việc tiến hành tố tụng đã đảm bảo tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà T1 và ông T1 đã có những mâu thuẫn trầm trọng. Sau khi bà T1 nộp đơn ly hôn, Tòa án đã triệu tập ông T1 đến Tòa nhiều lần nhưng ông T1 không đến, chứng tỏ ông T1 cũng không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa ông và bà T1. Do vậy, việc bà T1 yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Về con chung đã trưởng thành, nguyên đơn không yêu giải quyết. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung do các đương sự không tranh chấp nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt 02 lần liên tiếp không có lý do. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn T1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 118 do Ủy ban nhân dân phường L, quận (nay là thành phố) T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/9/2000 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của bà T1 thì thực tế cuộc sống vợ chồng của bà và ông T1 có nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập ông T1 đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T1 không đến tham gia hòa giải, điều này càng chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và chính ông T1 cũng không quan tâm và không muốn hàn gắn. Vì vậy, bà T1 yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
- Về con chung: Giữa bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn T1 có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Kim T2, sinh ngày 14/11/2001. Hiện con chung đã trưởng thành nên bà T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn, nuôi con của bà Huỳnh Thị Ngọc T đối với ông Nguyễn Văn T1.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Ngọc T chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ các Điều 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 118 do Ủy ban nhân dân phường L, quận (nay là thành phố) T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/9/2000).
2. Về con chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc T và ông Nguyễn Văn T1 có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Kim T2, sinh ngày 14/11/2001. Hiện con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Ngọc T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007599 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
6. Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc T và bị đơn ông Nguyễn Văn Thanh vắng M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Thanh |
Bản án số 93/2025/HNGĐ-ST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 93/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Huỳnh Thị Ngọc T xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T1
