Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ DẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ST

BẢN ÁN SỐ: 93/2025/HNGĐ-

Ngày: 17-6-2025

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Kim Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Hồ Huy Cường
  • 2. Ông Nguyễn Văn Trọn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Quốc Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 598/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Thị V, sinh năm 1962.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh V1, sinh năm 1962.

Cùng địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

(Các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16-10-2024 và các biên bản làm việc, nguyên đơn bà Lê Thị V trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thanh V1 chung sống với nhau vào năm 1984, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, đến năm 2021 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T.

Từ khi chung sống giữa bà và ông V1 luôn bất đồng quan điểm, ông V1 không chăm lo cho gia đình, thường cờ bạc, gây nợ rồi bỏ nhà đi nên bà phải trả nợ thay; đến năm 2020 ông V1 thường xuyên ghen tuông vô cớ, chưởi bà rất thô tục. Nay bà nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với ông V1 được nữa nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: 02 cháu Nguyễn Thanh L, sinh năm 1985 và Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1987 đều đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 07-01-2025, bị đơn ông Nguyễn Thanh V1 trình bày:

Ông và bà V mặc dù sống chung nhà nhưng đã ly thân về mặt tình cảm từ năm 2021 đến nay, ông bị bệnh bà V không quan tâm chăm sóc, nay ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà V.

Về tài sản chung: Ông có yêu cầu chia tài sản chung giữa ông và bà V.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị V:

Về hôn nhân: Bà Lê Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Thanh V1. Về con chung: 02 người con chung đã thành niên, không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Đương sự được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bà V có đơn xin xét xử vắng mặt, ông V1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên vụ án vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Bà V và ông V1 chung sống với nhau vào năm 1984, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào năm 2021, nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nay bà V có yêu cầu ly hôn với ông V1, Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung.

Xét yêu cầu ly hôn của bà V: Bà V yêu cầu ly hôn với ông V1 do ông không chăm lo cho gia đình, cờ bạc gây nợ bà phải trả nợ thay, ông V1 ghen tuông vô cớ chưởi bà thô tục. Đối với ông V1, qua làm việc ông đồng ý ly hôn với bà V. Cho thấy, giữa ông bà có mâu thuẫn, ông V1 không có yêu cầu để đoàn tụ nên cần chấp nhân yêu cầu ly hôn của bà V đối với ông V1 là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: 02 con chung của ông bà đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không đặt ra giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung:

Bà V không có yêu cầu chia tài sản chung đối với ông V1.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 07-01-2025 ông V1 có yêu cầu chia tài sản, tuy nhiên sau đó Tòa án đã tiến hành triệu tập ông V1 03 lần để làm đơn khởi kiện chia tài sản đối với bà V nhưng ông V1 không đến Tòa để trực tiếp làm đơn khởi kiện chia tài sản, không gửi đơn khởi kiện qua đường bưu điện nên Tòa án không xem xét yêu cầu chia tài sản của ông V1. Ông V1 có quyền khởi kiện chia tài sản chung trong một vụ án khác sau khi ly hôn.

[3] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà V được miễn tiền án phí trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị V đối với ông Nguyễn Thanh V1. Bà Lê Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Thanh V1.

2. Về con chung: 02 con chung của ông bà là Nguyễn Thanh L, sinh năm 1985 và Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1987 đã thành niên, tự lao động sinh sống được nên không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.

4. Về án phí: Bà Lê Thị V được miễn tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Gò Dầu;
  • - CC.THADS huyện Gò Dầu;
  • - Ủy ban nhân dân xã Thanh Phước;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Kim Quyên

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2025/HNGĐ ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về ly hôn

  • Số bản án: 93/2025/HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà Lê Thị Vui và ông Nguyễn Thanh Vân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger