TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2025/DS-ST
Ngày: 30/09/2025
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phát Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Thắng
- Ông Lê Hoàng Thái
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Truyển Hân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 09 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 12- Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 198/2023/TLST - DS ngày 23 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2025/QĐXXST – DS ngày 01 tháng 09 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 134/2025/QÐST-DS ngày 18 tháng 09 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:
Nguyên đơn: Ông Đào Thanh D (V), sinh năm: 1967
Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang nay là ấp C, xã L, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Ông Thanh T, sinh năm: 1985 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện V tỉnh Hậu Giang nay là ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn:
Ông Phạm Văn V, sinh năm: 1964 (có mặt)
Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1969 (có mặt)
ông Phạm Quốc T1, sinh năm: 1989 (vắng mặt)
Bà Phạm Thị Cẩm N, sinh năm: 1993 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang nay là ấp C, xã L, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lương Thị L, sinh năm: 1967 (có mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang nay là ấp C, xã L, thành phố Cần Thơ.
- Bà Đào Thị T2, sinh năm: 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang nay là ấp C, xã L, thành phố Cần Thơ.
- Ông Đào Văn C, sinh năm: 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang nay là ấp C, xã L, thành phố Cần Thơ.
- Đào Thị T3, sinh năm: 1988
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An nay là ấp P, xã P, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của Đào Thị T3: Ông Ông Thanh T, sinh năm: 1985 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện V tỉnh Hậu Giang nay là ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ.
- Ủy ban nhân dân xã L, thành phố Cần Thơ. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Điền E – Phó Trưởng phòng kinh tế, xã L, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa phía nguyên đơn trình bày:
Nguyên vào năm 2001 ông D có cho gia đình ông Phạm Văn V, địa chỉ: ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang, thuê một phần đất có diện tích 2520m, với giá 50 giạ lúa, sau đó ông V có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D và một thời gian sau trả lại. Sau đó đến năm 2009 ông D có chuyển nhượng cho bà Lương Thị L toàn bộ diện tích giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đến năm 2020 vợ ông D là bà Lương Thị L có nhu cầu cần sử dụng phần đất đã cho thuê nên đến nhà ông Phạm Văn V yêu cầu lấy lại đất thì được ông V nói là ông D đã chuyển nhượng cho ông V rồi. Ông D không hề hay biết về việc chuyển nhượng từ ông D sang cho ông Phạm Văn V, bởi vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D là cấp cho hộ. Ông D và vợ con ông D chưa từng ký tên trên tất cả các loại giấy tờ liên quan đến việc chuyển nhượng từ ông D sang ông V thì làm sao ông Phạm Văn V có thể làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất được. Như vậy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Phạm Văn V diện tích 2.520 m² thuộc thửa đất 881, tờ bản đồ số 02 là không hợp pháp.
Xét thấy việc ông V làm thủ tục chuyển nhượng như vậy là không đúng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông D, bà Lương Thị L và các con ông D.
Nay ông D khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau: Yêu cầu Toà án xem xét huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00292 do UBND huyện L, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 18/12/2001 cấp cho hộ: Phạm Văn V phần đất có diện tích 2.520 m², thửa đất số: 881, tờ bản đồ số: 02. Đồng thời công nhận phần đất trên là của ông D.
Quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Văn V, Bà Nguyễn Thị M thống nhất trình bày:
Vào năm 2001 chúng tôi có nhận chuyển nhượng phần đất của Ông Đào Văn D1 với diện tích được cấp là 2.520 m² với giá là 02 cây vàng 24k, hai bên có làm hợp đồng chuyển nhượng theo quy định pháp luật. Ông V và bà M đã giao vàng đủ và ông D1 đã giao đất cho ông V và bà M sử dụng, đồng thời ông V và bà M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00292 do UBND huyện L, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 18/12/2001 cấp cho hộ: Phạm Văn V phần đất có diện tích 2.520 m², thửa đất số: 881, tờ bản đồ số: 02.
Nay ông Đào Thanh D yêu cầu Toà án xem xét huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00292 do UBND huyện L, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 18/12/2001 cấp cho hộ: Phạm Văn V phần đất có diện tích 2.520 m², thửa đất số: 881, tờ bản đồ số: 02. Đồng thời công nhận phần đất trên là của ông D. Thì ông V và bà M yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D.
Quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Quốc T1, Bà Phạm Thị Cẩm N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do nên không thể tiến hành lấy ý kiến của Phạm Quốc T1, Bà Phạm Thị Cẩm N về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị L trình bày:
Nay ông D khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn V trả lại phần đất đang tranh chấp thì bà L cũng thống nhất theo yêu cầu ông D, buộc ông V trả lại đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên bà Đào Thị T3 có người đại diện Ông Thanh T trình bày:
Thống nhất theo lời trình bày của nguyên đơn ông Đào Thanh D. Bà Đào Thị T3 không yêu cầu gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đại diện Ủy ban nhân dân xã L trình bày:
Trên cơ sở Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy tờ nộp thuế, Ủy ban nhân dân huyện L đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Phạm Văn V đúng theo Điều 75 Luật đất đai năm 1993.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán – Hội đồng xét xử đã tuân đúng các quy định của pháp luật về tố tụng, những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228 và Điều 248 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 99, Điều 100 và Điều 203 Luật đất đai 2013. Đề nghị Hội Đồng xét xử giải quyết theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn D1 đối với các bị đơn Phạm Văn V, Nguyễn Thị M, Phạm Quốc T1, Phạm Thị Cẩm N. Về án phí dân sự sơ thẩm; chi phí thẩm định, định giá: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì người liên quan Phạm Quốc T1, Phạm Thị Cẩm N, Đào Thị T2, Đào Văn C vắng mặt không lý do; ông Lê Điền E có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 và Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với người liên quan nêu trên.
Ông Đào Thanh D khởi kiện yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00292 do UBND huyện L, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 18/12/2001 cấp cho hộ: Phạm Văn V phần đất có diện tích 2.520 m², thửa đất số: 881, tờ bản đồ số: 02. Đồng thời công nhận phần đất trên là của ông D. Nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về nội dung:
Nguyên đơn ông Đào Thanh D trình bày vào năm 2001 ông D có cho gia đình ông Phạm Văn V, thuê một phần đất có diện tích 2.520 m², với giá 50 giạ lúa, sau đó ông V có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D và một thời gian sau trả lại. Đến năm 2009 ông D có chuyển nhượng cho bà Lương Thị L toàn bộ diện tích đất của ông D.
Đến năm 2020 vợ ông D là bà Lương Thị L có nhu cầu cần sử dụng phần đất đã cho thuê nên đến nhà ông Phạm Văn V yêu cầu lấy lại đất thì được ông V nói là ông D đã chuyển nhượng cho ông V rồi. Ông D không hề hay biết về việc chuyển nhượng từ ông D sang cho ông Phạm Văn V, bởi vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D là cấp cho hộ. Ông D và vợ con ông D chưa từng ký tên trên tất cả các loại giấy tờ liên quan đến việc chuyển nhượng từ tôi sang ông V thì làm sao ông Phạm Văn V có thể làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất được. Như vậy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Phạm Văn V diện tích 2.520 m² thuộc thửa đất 881, tờ bản đồ số 02 là không hợp pháp. Vì
vậy ông D khởi kiện yêu cầu Toà án xem xét huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00292 do UBND huyện L, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 18/12/2001 cấp cho hộ: Phạm Văn V phần đất có diện tích 2.520 m², thửa đất số: 881, tờ bản đồ số: 02. Đồng thời công nhận phần đất trên là của ông D.
Theo lời trình bày của phía nguyên đơn thì bị đơn không thống nhất và không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn vì vào năm 2001 bị đơn có nhận chuyển nhượng phần đất của Ông Đào Văn D1 với diện tích được cấp là 2.520 m² với giá là 02 cây vàng 24k, hai bên có làm hợp đồng chuyển nhượng theo quy định pháp luật. Ông V và bà M đã giao vàng đủ và ông D1 đã giao đất cho ông V và bà M sử dụng, đồng thời ông V và bà M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00292 do UBND huyện L, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 18/12/2001 cấp cho hộ: Phạm Văn V phần đất có diện tích 2.520 m², thửa đất số: 881, tờ bản đồ số: 02, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc hiện ông V đang giữ.
Xét thấy, theo kết quả đo đạc ngày 08/03/2022 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Hậu Giang ( nay là chi nhánh văn phòng Đ) xác định được phần đất đang tranh chấp tại thửa 881 có tổng diện tích 2.587,8m², hiện ông Phạm Văn V đang canh tác (trồng lúa) và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phía nguyên đơn và bị đơn điều thống nhất nguồn gốc đất là của ông D1. Ông D1 cho rằng chỉ cho ông V thuê nhưng ông V đã tự làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn ông V cho rằng phần đất đang tranh chấp ông V chuyển nhượng của ông D1, ông V đã giao đủ vàng, ông D1 đã giao đất cho ông V, ông V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và canh tác đất hơn 20 năm nay.
Hội đồng xét xử thấy rằng phía nguyên đơn trình bày vào năm 2001 nguyên đơn có cho phía bị đơn thuê đất nhưng phía bị đơn không thừa nhận, phía nguyên đơn cũng không có chứng chứ gì để chứng minh cho yêu cầu của mình nên việc nguyên đơn cho rằng đã cho bị đơn thuê đất là không có cơ sở.
Đối với phần đất đang tranh chấp phía bị đơn cho rằng đã chuyển nhượng của nguyên đơn, theo lời trình bày của phía bị đơn phù hợp với các chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, theo kết quả trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông V thể hiện vào năm 2001 ông D1 có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông V và đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận. Đồng thời ông V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Đồng thời theo văn bản trả lời của ủy ban nhân dân huyện L thì trên cơ sở Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy tờ nộp thuế, UBND huyện L đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Phạm Văn V vào ngày 18/12/2001, diện tích 2.520 m², thửa đất số 881, mục đích sử dụng đất 2L, thời
hạn sử dụng đất 20 năm, tại ấp C, xã L, huyện L thì thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND huyện L xác định thực hiện đúng theo Điều 75 Luật Đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998).
Từ các cơ sở đó Hội đồng xét xử thấy rằng việc nguyên đơn yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00292 do UBND huyện L, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 18/12/2001 cấp cho hộ: Phạm Văn V phần đất có diện tích 2.520 m², thửa đất số: 881, tờ bản đồ số: 02. Đồng thời công nhận phần đất trên là của ông D1 là không có căn cứ để chấp nhận.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Đào Thanh D phải chịu 300.000 đồng
[4] Chi phí thẩm định, định giá tài sản và chi phí tố tụng khác: 5.180.000 đồng, nguyên đơn phải chịu toàn bộ, nguyên đơn đã nộp đủ.
Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 155 Bộ luật dân sự 2015; Điều 37, Điều 137, Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228 và Điều 248 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Thanh D (Văn Duôl) về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị M, ông Phạm Quốc T1, bà Phạm Thị Cẩm N.
Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Đào Thanh D (V) phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí ông Đào Thanh D đã đóng theo biên lai số 0009786 ngày 23/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12- Cần Thơ. Ông Đào Thanh D đã nộp đủ án phí.
Chi phí thẩm định, định giá tài sản: 5.180.000 đồng, nguyên đơn ông Đào Văn D1 phải chịu toàn bộ, nguyên đơn ông Đào Văn D1 đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Phát L1 |
Bản án số 93/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 93/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại đất.
