|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2025/DS-ST Ngày: 17-6-2025 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Dung.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hoàng Mích; Bà Phạm Thị Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 86/2025/TLST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 125/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 118/2025/QÐST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ trụ sở chính: Số B, đường H, phường T, Quận Đ, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V. Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Hưng Q. Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt NamChi nhánh huyện N.
Địa chỉ: Số B, đường C, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre (theo văn bản ủy quyền số 92/UQ-NHNo.BÐ-TH ngày 10 tháng 4 năm 2025).
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1968;
Địa chỉ: Ấp B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị K1, sinh năm 1972;
- Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1996;
- Anh Nguyễn Chí B, sinh năm 2002;
Cùng địa chỉ: Ấp B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
(Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Phạm Hưng Q, ông Nguyễn Văn K, bà Trần Thị K1, anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Chí B đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/12/2024; các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng N người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị K1 có ký kết Hợp đồng vay vốn với Ngân hàng N - Chi nhánh huyện B Hợp đồng số 7104-LAV-202300984 ngày 07/04/2023.
Ngày 07/04/2023, ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị K1 đã nhận số tiền vay là 60.000.000 đồng; Thời hạn cho vay 06 tháng, hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 07/10/2023; Lãi suất cho vay 9,5%/năm (tương đương 0,791%/tháng); Mục đích vay để nuôi tôm. Dư nợ đến ngày 20/12/2024 là 60.000.000 đồng.
Khi vay, ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị Kiều kê K2 tài sản và giao nộp cho Ngân hàng N - Chi nhánh huyện B các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau:
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 870754, số vào sổ cấp giấy CH00788 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 22/02/2011 đối với thửa đất số 72, tờ bản đồ số 65, loại đất trồng lúa, diện tích 4.170,2m², tọa lạc tại ấp B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 870755, số vào sổ cấp giấy CH00789 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 22/02/2011 đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số 65, loại đất trồng cây hàng năm khác, diện tích 2.111,2m², tọa lạc tại ấp B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre
Hiện nay ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị K1 đã vi phạm Hợp đồng tín dụng số 7104-LAV-202300984 ngày 07/04/2023. Tính đến ngày khởi kiện (ngày 20/12/2024), ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị K1 còn nợ số tiền là 70.071.845 đồng, trong đó: Nợ gốc là 60.00.000 đồng; Nợ lãi là 10.071.845 đồng.
Vì vậy, Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị K1 phải trả cho Ngân hàng N - Chi nhánh huyện B số tiền nợ gốc là: 60.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày khởi kiện (ngày 20/12/2024) là 10.071.845 đồng, tổng cộng là 70.071.845 đồng. Đồng thời ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị Kiều C phải trả lãi phát sinh từ ngày 20/12/2024 theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết ngày 07/4/2023 cho đến thời điểm ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị Kiều T1 tất nợ.
Tại văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Nguyên đơn giữ nguyên lời trình bày nêu trên về quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng giữa hai bên. Đến ngày 08/10/2023 khoản nợ vay đã chuyển sang nợ quá hạn gốc và lãi, bên vay cố tình không trả nợ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/6/2025), số tiền ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị K1 còn nợ và buộc phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N là 73.486.648 đồng, trong đó: Nợ gốc là 60.000.000 đồng; Nợ lãi là 13.486.648 đồng (lãi trong hạn là 9.258.256 đồng; Lãi quá hạn là 4.015.890 đồng; Lãi chậm trả là 212.502 đồng).
Đồng thời, ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị K1 còn phải tiếp tục trả lãi trên số nợ gốc phát sinh kể từ ngày 18/6/2025 cho Ngân hàng N theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết ngày 07/04/2023 cho đến khi ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị Kiều T1 tất nợ.
Ngân hàng N không yêu cầu anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Chí B cùng có nghĩa vụ với ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị Kiều T1 số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng.
Do bận công tác đột xuất nên phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn trong vụ án này. Nguyên đơn cam đoan không khiếu nại về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Đối với bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về tố tụng:
-
Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Nguyên đơn Ngân hàng N khởi kiện tranh chấp về tiền cho vay để nuôi tôm công nghiệp và mua đồ trang trí nội thất đối với ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị Kiều . Tại hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận lựa chọn giải quyết tranh chấp (nếu có, trong trường hợp không thương lượng được) thì Tòa án nhân dân nơi đóng trụ sở của Ngân hàng N - Chi nhánh huyện B có thẩm quyền giải quyết. Xét thỏa thuận này của các bên là không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là loại tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
-
Về sự vắng mặt của các đương sự được triệu tập tham gia phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Hưng Q vắng mặt, có văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Văn K và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị K1, anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Chí B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Phạm Hưng Q, ông Nguyễn Văn K, bà Trần Thị K1, anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Chí B.
-
Quá trình giải quyết vụ án:
Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật nhưng các đương sự này đều không có ý kiến phản đối xem như mặc nhiên thừa nhận những tài liệu, chứng cứ này. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Hội đồng xét xử sử dụng những tài liệu, chứng cứ này để làm cơ sở giải quyết vụ án.
-
Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
-
Về nội dung:
-
Xét hiệu lực của hợp đồng tín dụng:
Tại Hợp đồng tín dụng số 7104-LAV-202300984 ngày 07/04/2023 giữa Ngân hàng N với ông Nguyễn Văn K và những ông (bà) có tên theo Hợp đồng ủy quyền số 2023.10.49/HĐUQ ngày 07/4/2023 (bao gồm bà Trần Thị K1, anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Chí B) do ông Nguyễn Văn K là người đại diện theo ủy quyền và Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 7104-LDS-202301852 ngày 07/4/2023 có nội dung thể hiện: Ngân hàng N có cho ông Nguyễn Văn K, bà Trần Thị K1, anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Chí B vay số tiền 60.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng, mục đích vay để nuôi tôm công nghiệp và mua đồ trang trí nội thất, lãi suất cho vay 9,5%/năm (tương đương 0,791%/tháng), việc cho vay không bảo đảm bằng tài sản.
Xét về hình thức và nội dung của Hợp đồng tín dụng số 7104-LAV-202300984 ngày 07/04/2023 nêu trên phù hợp với quy định tại các điều 116, 117, 118, 119, 385, 401, 421 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên phát sinh hiệu lực pháp luật từ thời điểm giao kết.
-
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn K, bà Trần Thị K1, anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Chí B không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn K, bà Trần Thị K1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc và tiền lãi tạm tính đến hết ngày 17/6/2025 là 73.486.648 đồng, trong đó nợ gốc là 60.000.000 đồng và nợ lãi là 13.486.648 đồng, cùng với tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc kể từ ngày 18/6/2025, theo Hợp đồng tín dụng số 7104-LAV-202300984 mà hai bên đã ký kết ngày 07/04/2023 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ là phù hợp với quy định Điều 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và Á lệ số 08/2016/AL17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên chấp nhận.
- Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng N không yêu cầu anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Chí B cùng có nghĩa vụ với ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị Kiều T1 số tiền nợ nêu trên.
-
Xét hiệu lực của hợp đồng tín dụng:
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn K, bà Trần Thị K1 phải chịu toàn bộ với số tiền được tính như sau: 5% x 73.486.648 đồng = 3.674.332 đồng.
Trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng các điều 116, 117, 118, 119, 357, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 8, 100, 102, 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 các điều 8, 9, 10, 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và Án lệ số 08/2016/AL17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn ông Nguyễn Văn K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kiều .
- Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng N không yêu cầu anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Chí B cùng có nghĩa vụ với ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị Kiều T1 số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng N.
-
Án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị K1 phải nộp 3.674.332 đồng (ba triệu sáu trăm bảy mươi bốn nghìn ba trăm ba mươi hai) đồng.
Trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.751.796 (một triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn bảy trăm chín mươi sáu) đồng theo biên lai thu số 0011160 ngày 24/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị K1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc là 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng và tiền lãi tạm tính đến hết ngày 17/6/2025 là 13.486.648 (mười ba triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn sáu trăm bốn mươi tám) đồng, tổng cộng là 73.486.648 (bảy mươi ba triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn sáu trăm bốn mươi tám) đồng.
Ngân hàng N được quyền tiếp tục tính lãi trên số nợ gốc phát sinh kể từ ngày 18/6/2025, theo Hợp đồng tín dụng số 7104-LAV-202300984 ngày 07/04/2023 cho đến khi ông Nguyễn Văn K và bà Trần Thị Kiều T1 xong số tiền nêu trên.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà người phải thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thùy Dung |
Bản án số 93/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 93/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N với ông Nguyễn Văn K
