TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 93/2025/DS-PT Ngày 16 - 6 - 2025 Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Bà Bùi Thị Đoan Trang.
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Ông Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 172/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS- ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 66/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị C, sinh năm 1945.
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của bà C:
- Bà Hoàng Thị Minh D, sinh năm 1984; (Có mặt).
Địa chỉ: TDP X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ông Vũ Viết Q, sinh năm 1989; (Có mặt)
Địa chỉ: thôn R, xã T, huyện L, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc
(Theo Giấy ủy quyền ngày 16/10/2024 của bà C).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông P:
- Ông Phạm Dương H, sinh năm 1967; (Có mặt).
- Bà Phạm Hương G, sinh năm 2001; (Có mặt).
Đều ở địa chỉ: Số A N, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
(Theo Giấy ủy quyền ngày 25/02/2025 của ông P).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Ủy ban nhân dân xã B.
Địa chỉ: Xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân xã B: Ông Nguyễn Văn S- Phó chủ tịch UBND xã B. (Theo Giấy ủy quyền ngày 14/3/2025 của ông Nguyễn Văn T - Chủ tịch UBND xã); (Có đơn xin vắng mặt).
4. Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1950; (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Người kháng cáo: Bà Đặng Thị C – Nguyên đơn.
6. Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vũ Văn Q1 trình bày:
Gia đình bà C có thửa đất lâm nghiệp (thời hạn sử dụng 50 năm) tại lô số 18 (Khe Bồ Cờ N) khu B, thôn T, xã B (nay là thôn B, xã B) diện tích 732 m² được UBND xã B giao năm 2004 (đến nay gia đình bà C chỉ giữ được bản đồ giao đất lâm nghiệp, ngoài ra không có giấy tờ gì khác). Quá trình sử dụng đất ông Nguyễn Văn P đã lấn chiếm của gia đình bà vào diện tích đất trên (theo đo đạc thực tế) là 280 m², trên phần đất lấn chiếm ông P đã làm cổng đổ bê tông đi vào đất của ông P, chuồng trại....Bà C đã nhiều lần yêu cầu ông P tháo dỡ các công trình và trả đất cho bà nhưng ông P không trả. Nay bà yêu cầu ông Nguyễn Văn P tháo dỡ các công trình xây dựng trên đất lấn chiếm và trả lại diện tích đất đã lấn chiếm (theo đo đạc) là 280m² tại lô đất số 18 (Khe Bồ Cờ N) cho bà; yêu cầu gia đình ông P bồi thường cho bà do không canh tác được trên đất ông P đã lấn chiếm từ năm 2004 cho đến nay là 40.000.000đ.
Bà C hoàn toàn đồng ý với trình bày của người đại diện theo ủy quyền, bà không có bổ sung gì.
Bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:
Diện tích đất gia đình ông đang sử dụng có nguồn gốc là ông mua một phần và UBND xã B cấm một phần. Diện tích đất gia đình ông sử dụng từ năm 1990. Đến năm 1999 ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất ông quản lý sử dụng. Đối với phần đất hiện nay bà C cho rằng ông lấn chiếm của bà C ông đã sử dụng từ năm 1990 và nằm trong phần đất ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999, đối với đường đổ bê tông đi vào đất của ông, từ khi ông đến ở trên đất thì UBND xã B đã đến làm việc và cắm đường vào cho ông. Năm 1991, 1992 ông đổ bê tông đường vào đất nhà ông. Khi ông mở đường bê tông không ai có ý kiến gì, gia đình bà C không có ý kiến, ngăn cản gì. Khoảng năm 2002 bà C có tranh chấp về đường đổ bê tông (ông làm) đi vào gia đình ông, ông có làm đơn đến UBND xã B, sau đó UBND xã B có giải quyết và xác định con đường vào gia đình ông là của ông (cắm mốc theo đường ông đang sử dụng) không phải của bà C. Đối với phần diện tích đất (bà C cho rằng ông lấn chiếm) ông vẫn sử dụng từ năm 1990 cho đến năm 2022 không có tranh chấp gì. Năm 2022 bà C đổ đất vào đường vào nhà ông và lập mương thì ông có đơn đến UBND xã B, UBND huyện L thì sau đó giải quyết bà C không được đổ đất nữa. Đến năm 2023 thì bà C mới có tranh chấp với ông về phần diện tích đất hiện nay ông đang sử dụng. Nay bà C yêu cầu ông tháo dỡ các công trình ông đã xây dựng và trả lại bà C (theo đo đạc) là 280m², yêu cầu ông bồi thường cho bà C do không canh tác được trên đất là 40.000.000đ, ông không đồng ý vì ông không lấn chiếm đất của bà C.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Bà là vợ ông Nguyễn Văn P, toàn bộ các nội dung như ông P trình bày là đúng, bà đồng ý với trình bày của ông P, không có bổ sung gì. Nay bà C yêu cầu gia đình bà tháo rỡ các công trình đã xây dựng và trả lại bà C (theo đo đạc) là 280m², yêu cầu gia đình bà bồi thường cho bà C do không canh tác được trên đất là 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), bà không đồng ý vì gia đình bà không lấn chiếm đất của bà C.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND xã B trình bày:
Theo bản đồ 299 tham chiếu bản đồ VN 2000, diện tích đất hiện nay ông Nguyễn Văn P đang sử dụng không đúng vị trí thửa số 126 tờ bản đồ số 05 được cấp GCNQSD cho ông P.
Đối với việc giao đất lâm nghiệp cho hộ ông Nguyễn Văn S1 chồng bà C năm 2004 hiện nay tại UBND xã B không có lưu trữ gì. Đối với diện tích đất hiện nay hộ ông P đang sử dụng trên thực tế trong hồ sơ địa chính (bản đồ 299, số mục kê, số địa chính) không thể hiện cụ thể nên không xác định được là loại đất gì.
Đối với diện tích đất (theo bản đồ giao đất lâm nghiệp ngày 10/10/2004 cho ông Nguyễn Văn S1) qua kiểm tra không thể hiện trên bản đồ 299.
Đối với diện tích đất đang tranh chấp, qua kiểm tra hồ sơ địa chính (bản đồ 299, số mục kê, sổ địa chính) thì không xác định được là loại đất gì. Phần diện tích đang tranh chấp giữa hai hộ đã có tranh chấp từ nhiều năm nay, địa phương đã hòa giải nhiều lần nhưng không được.
Nay bà C khởi kiện ông P, địa phương đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng là ông Nguyễn Thanh L trình bày:
Ông làm cán bộ địa chính xã B từ năm 1987, 1988 đến năm 2004. Đối với bản đồ giao đất lâm nghiệp cho hộ ông Nguyễn Văn S1 ngày 10/10/2004 cán bộ Tòa án cho ông xem đúng là chữ ký của ông. Phần đất theo bản đồ là 732m² giao cho ông S1 là đất mương bỏ không (chuyên để trồng sắn). Lúc đó UBND xã B giao cho hộ ông S1, bà C quản lý, sử dụng giao không có thu tiền sử dụng đất. Khi giao đất đó là đất mương không phải đất lâm nghiệp, do hộ ông S1, bà C ở gần đó nên thời điểm đó giao luôn cho hộ ông S1. Khi đó UBND xã B giao đất, UBND huyện L không giao đất. Khi giao đất cho hộ ông S1, gia đình ông P ở gần đất và biết việc giao đất của hộ ông S1. Thời điểm giao đất có giao trên thực địa, ông là người trực tiếp có mặt để giao và vẽ sơ đồ. Diện tích đất này gia đình ông S1 đã quản lý từ rất lâu trước đó, đến năm 2004 thì UBND xã B mới giao cho ông S1 trực tiếp quản lý diện tích đất này. Đất giao cho ông S1 là đất nương nhưng để không lâu năm hoang hóa, khi gia đình ông S1 làm ở gần đất thì hộ ông S1 vỡ vạc dần nên khi giao thì giao cho hộ ông S1. Năm 2004, khi giao đất cho hộ ông S1, bà C thì đã có con đường đi từ ngoài đường chính cắt ngang qua lô đất 18 do ông P tự mở để lấy lối đi vào đất nhà ông P. Tuy nhiên, bản đồ bản đồ giao đất lâm nghiệp cho hộ ông Nguyễn Văn S1 ngày 10/10/2004 ông không vẽ con đường vào nhà ông P đang sử dụng trên sơ đồ lo đất nhà ông S1 vì ông P tự mở đường để sử dụng chứ UBND xã B không cắm đường cho ông P. Từ khi ông P đến ở thửa đất giáp với thửa đất tranh chấp thì hộ ông P chỉ sử dụng lối đi này là duy nhất. Ông đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp theo qui định của pháp luật và xin vắng mặt tại phiên tòa.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS- ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị C yêu cầu ông Nguyễn Văn P trả lại 280m² tại lô đất số 18 (khu B) cho bà và bà yêu cầu gia đình ông P bồi thường cho bà do không canh tác được trên đất ông P đã lấn chiếm từ năm 2004 cho đến nay là 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
Ngày 10/10/2024 bà Đặng Thị C kháng cáo bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết hủy bản án sơ thẩm; đề nghị Tòa án tỉnh Vĩnh Phúc buộc ông P trả gần 300m² đất ông P lấn chiếm; tháo dỡ công trình xây dựng, bồi thường thiệt hại cho gia đình bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút kháng cáo, nhưng sửa đổi nội dung kháng cáo là không đề nghị hủy bản án sơ thẩm, chỉ đề nghị đề nghị Tòa án tỉnh Vĩnh Phúc buộc ông P trả bà 280m² đất ông P lấn chiếm; tháo dỡ công trình xây dựng, bồi thường cho gia đình bà do không canh tác được trên đất ông P đã lấn chiếm từ năm 2004 cho đến nay là 40.000.000₫.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm.
- Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bà C;
- Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2024 “V/v: Tranh chấp Quyền sử dụng đất” của Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 245, Điều 248, Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai 2013; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
+ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi khởi của bà C là buộc ông P và gia đình ông P phải trả lại cho gia đình bà C phần diện tích đất là: 169,4 m².
+ Xác định lối đi lối đi đổ bê tông nằm trên lô đất số 18 là lối đi chung của gia đình ông P và gia đình bà C.
+ Buộc ông P và gia đình ông P phải tháo dỡ các tài sản mà ông P và gia đình ông P đã xây dựng, đã trồng trên phần diện tích đất 169,4 m² để trả lại diện tích đất 169,4 m² cho bà C và gia đình bà C.
+ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C là buộc ông P và gia đình ông P phải bồi thường cho bà C số tiền là 40.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Đặng Thị C được chấp nhận một phần nên bà C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của của nguyên đơn làm trong thời hạn luật định do đó được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà C khởi kiện ông P trả lại một phần diện tích của lô đất (thửa đất) số 18 tại Khe Bồ Cờ N, thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc mà hộ ông S1 (Ông S1 là chồng bà C - ông S1 đã chết) được UBND xã Bàn Giản giao đất và lập “Bản đồ giao đất lâm nghiệp” đề ngày 10/10/2004 cho hộ ông S1. Bản đồ giao đất ghi đất lâm nghiệp do ông Nguyễn Thanh L, cán bộ địa chính xã và ông Nguyễn Quốc H2, chủ tịch UBND xã B thời kỳ đó ký xác nhận, đóng dấu UBND xã B.
Điều 37 Luật đất đai năm 2003 quy định:
“Điều 37. Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
1...
2. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; giao đất đối với cộng đồng dân cư.
3. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn”.
UBND xã B giao đất lâm nghiệp cho hộ ông S1, bà C quản lý, sử dụng lô đất số 18 (Khe Bồ Cờ N) là trái thẩm quyền qui định tại Điều 37 Luật Đất đai năm 2003. Nhưng căn cứ vào “Bản đồ giao đất lâm nghiệp” đề ngày 10/10/2004 Hội đồng xét xử xác định có sự việc năm 2004 UBND xã Bàn Giản giao đất lâm nghiệp cho hộ ông S1, bà C là cơ sở để khẳng định việc bà C khởi kiện buộc hộ ông P trả lại một phần thửa đất số 18 (Khe Bồ Cờ N) là đúng và thực tế bà đang sử dụng phần lớn lô đất, chỉ tranh chấp 280m².
Ông Nguyễn Thanh L là cán bộ địa chính xã B từ năm 1987, 1988 đến năm 2004 và là người ký trực tiếp bản đồ giao đất cho ông Nguyễn Văn S1 (chồng bà C) ông cũng trình bày: Đối với bản đồ giao đất lâm nghiệp cho hộ ông Nguyễn Văn S1 ngày 10/10/2004 cán bộ Tòa án cho ông xem đúng là chữ ký của ông. Phần đất theo bản đồ là 732m² giao cho ông S1 là đất mương bỏ không (chuyên để trồng sắn). Lúc đó UBND xã B giao cho hộ ông S1, bà C quản lý, sử dụng giao không có thu tiền sử dụng đất. Khi giao đất đó là đất mương không phải đất lâm nghiệp, do hộ ông S1, bà C ở gần đó nên thời điểm đó giao luôn cho hộ ông S1. Khi đó UBND xã B giao đất, UBND huyện L không giao đất. Thời điểm giao đất có giao trên thực địa, ông là người trực tiếp có mặt để giao và vẽ sơ đồ. Diện tích đất này gia đình ông S1 đã quản lý từ rất lâu trước đó, đến năm 2004 thì UBND xã B mới giao cho ông S1 trực tiếp quản lý diện tích đất này. Đất giao cho ông S1 là đất nương nhưng để không lâu năm hoang hóa, khi gia đình ông S1 làm ở gần đất thì hộ ông S1 vỡ vạc dần nên khi giao thì giao cho hộ ông S1. Thời điểm năm 2004 khi lập Bản đồ giao đất cho hộ ông S1, bà C thì trên lô đất giao cho hộ ông S1, bà C đã có con đường do hộ ông P tự mở để lấy lối đi từ ngoài đường chính cắt ngang qua lô đất số 18 để vào đất ông P nhưng ông không vẽ con đường vào nhà ông P đang sử dụng vào bản đồ lô đất hộ ông S1 vì đường do ông P tự mở để sử dụng chứ UBND xã B không cắm đường cho ông P. Ông L cũng xác định đây là lối đi duy nhất của hộ ông P.
Ngày 22/5/2025 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc làm việc với đại diện UBND xã B, thì đại diện UBND cho biết: “Trên lô đất cấp cho hộ ông S1 có một con đường đổ bê tông do ông P tự làm từ đường lớn dẫn vào nhà ông P và con đường này nằm trên lô đất mà UBND xã giao cho hộ ông S1 ngày 10/10/2004. UBND xã khẳng định con đường này ông P đã sử dụng từ khi ông P đến ở tại thửa đất 126, tờ bản đồ 05 của ông từ những năm 1990. Như vậy, ngày 10/10/2004 UBND xã B giao lô đất số 18, diện tích 732m² cho hộ ông S1, bà C gồm cả con đường dẫn vào nhà ông P là làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng về lối đi của gia đình ông P bởi trước đó gia đình ông P đã sử dụng lối đi này. Việc giao đất cho hộ ông S1, bà C trong đó có cả con đường mà hộ ông P đang sử dụng vào năm 2004 là có sự sai sót. Nay Tòa án giải quyết tranh chấp đất giữa bà C và ông P thì đề nghị Tòa án xem xét đảm bảo quyền sử dụng lối đi cho hộ ông P”.
Như vậy, Hội đồng xét xử xác định lối đi đổ bê tông từ đường liên thôn dẫn vào nhà ông P là lối đi dân sinh. Hộ ông P, bà C và những người dân khác được sử dụng lối đi này.
Theo sự chỉ dẫn của đương sự khi xem xét thẩm định thì phần lớn lô đất 18 gia đình bà C vẫn đang sử dụng phần lớn đường liên thôn, chỉ tranh chấp 280m² phía giáp đất hộ ông P. Hiện ông P đang sử dụng thửa đất 126, tờ bản đồ 05 có diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1355m². Qua xem xét và đo đạc thì thấy ông P đang sử dụng 1264,9m² phía giáp hộ ông Đ, còn thiếu 90,1m² diện tích đất so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, trong diện tích 280m² đất đang tranh chấp có 90,1m² đất của hộ ông P, không phải đất hộ bà C. Còn lại 280m² - 90,1m² = 189,9m² thì có 20.5m² là lối đi vào đất ông P ông đã đổ bê tông nên diện tích đất hộ ông P lấn chiếm của hộ bà C là 280m² - 90,1m² - 20.5m² = 169,4m² ( chính là diện tích đất ký hiệu S3.2 = 80,2 m² và diện tích đất ký hiệu S3.4 = 89,2m² trên sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án). Việc bà Đặng Thị C khởi kiện đề nghị ông Nguyễn Văn P trả lại 280m2 tại lô đất số 18 (khu B) cho là không chính xác vì có cả phần đất hộ ông P và lối đi. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi của bà C là buộc hộ ông P phải trả lại cho gia đình bà C phần diện tích đất là: 80,2 m² + 89,2m² = 169,4 m².
Còn diện tích S4 là 400,6m² hai hộ không tranh chấp về đất nhưng tranh chấp về con đường bê tông, đường bê tông đi vào phía đất hộ ông P trong diện tích S4 này có diện tích là 24,4m² xác định là lối đi chung, diện tích còn lại là 318m² + 58,2m² = 376,2m² thuộc quyền sử dụng của hộ bà C.
Như vậy sau khi trừ đi phần diện tích 90,1m² đất của hộ ông P và xác định diện tích lối đi (S3.3) là 20,5m² + (S4.2) là 24,4m² = 44,9m² là lối đi chung thì hộ bà C còn được sử dụng tổng cộng 169,4 m² + 376,2m² = 545,6m² đất lâm nghiệp. Mặc dù không đủ diện tích như Biên bản giao đất ngày 10/10/2004 của UBND xã B nhưng phải chấp nhận vì cũng không có cơ sở pháp lý nào khẳng định năm 2004 UBND xã B giao đủ diện tích 732m² đất cho gia đình bà và khi giao cũng không có mốc giới, không trừ lối đi vào nhà ông P. Cần xác định là đất lâm nghiệp vì bản đồ giao đất cho hộ ông S1 năm 2004 thể hiện là đất lâm nghiệp.
Việc bà C yêu cầu gia đình ông P bồi thường cho bà do không canh tác được trên đất ông P đã lấn chiếm từ năm 2004 cho đến nay 40.000.000 đồng là không có cơ sở vì bà không trình bày được thiệt hại thực tế những gì để xem xét, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu đòi bồithường này.
Từ những phân tích trên cho thấy bản án sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C là chưa chính xác. Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo kháng cáo của bà C, chấp nhận một phần nội dung khởi kiện, sửa một phần bản án sơ thẩm.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Bà Đặng Thị C đã chi phí xong 5.700.000₫ và không có ý kiến gì.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà C không được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện lẽ ra phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nội dung không được chấp nhận. Tuy nhiên bà C thuộc đối tượng là người cao tuổi và có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí. Căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2014/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà C.
- Đất lâm nghiệp tại vị trí tranh chấp có trị giá theo biên bản định giá là 55.000đ/m². Ông P, bà H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với diện tích đất phải trả lại là 169,4m² x 55.000đ/m² x 5% = 466.000 đồng.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị C, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Căn cứ Điều 37 Luật Đất đai 2003; Điều 166, Điều 175 Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2014/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận một yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị C.
- Buộc ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị H1 trả lại 169,4 m² đất lâm nghiệp (gồm 80,2 m² có ký hiệu là 6A, 1B, 24A, 4, 5, 6, 6A và 89,2m² có ký hiệu 1A, 1, 2, 3, 24B, 1ª) tại lô (thửa) đất số 18 (Khe Bồ Cờ N) thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc cho hộ bà Đặng Thị C (hộ ông Nguyễn Văn S1).
- Ranh giới thửa đất thửa số 126 tờ bản đồ số 05 tại thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc của hộ Nguyễn Văn P với lô (thửa) đất số 18 Khe Bồ Cờ N, thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc là đường thẳng có ký hiệu 6A, 1B, 1A, 1 trên sơ đồ kèm theo bản án phúc thẩm.
- Hộ ông P được sử dụng thửa đất có ký hiệu 1, 1A, 1B, 6A, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 1, 1A có diện tích 1355m².
- Hộ bà Đặng Thị C được sử dụng thửa đất lâm nghiệp có ký hiệu 6A, 1B, 24A, 23B, 24, 25, 6, 6A có diện tích 398,2m² và thửa đất lâm nghiệp có ký hiệu 1A, 1, 2, 22, 23, 23A, 24B,1A diện tích 147,4m² thuộc lô (thửa) đất số 18 (Khe Bồ Cờ N) thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị H1 có nghĩa vụ di dời, dỡ bỏ những tài sản, công trình, cây cối của ông P, bà C xây dựng, trồng trọt trên phần đất nói trên của hộ bà C.
- Lối đi bê tông có ký hiệu 23A, 24A, 1B, 1A, 24B, 23A diện tích 44,9m² là lối đi dân sinh, hộ ông Nguyễn Văn P, hộ bà Đặng Thị C và những người dân khác được sử dụng lối đi này.
(Các ký hiệu mốc giới nói trên theo sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án phúc thẩm)
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đặng Thị C về việc yêu cầu gia đình ông Nguyễn Văn P bồi thường cho bà do không canh tác được trên đất ông P đã lấn chiếm từ năm 2004 cho đến nay là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng).
3. Về chi phí tố tụng: Bà Đặng Thị C chịu 5.700.000 đồng, bà đã chi phí xong.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đặng Thị C.
- Vợ chồng Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 466.000₫ (Bốn trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Đặng Thị C.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Vĩnh Thành |
Bản án số 93/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại
- Số bản án: 93/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà C ông P tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại
