Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 93/2024/HS-ST

Ngày: 26/4/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Huyền

Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đại - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37 / 2024/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55 /2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Đình T

( tên gọi khác: Không ), sinh ngày 29 tháng 11 năm 2004; tại: Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố A, phường T, quận N, TP Hà Nội; Chỗ ở: Số B, đường L, phường L, quận H, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Nhân viên bảo vệ; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Anh T1 và bà Nguyễn Thị H ; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến nay tại trại tạm giam số 2, Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

Anh Hoàng Hải Đ, sinh năm 1998.

Địa chỉ: P, CT1, chung cư I, đường L, phường D, quận H, thành phố Hà Nội .

Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Công ty cổ phần A.

Trụ sở: Số nhà C, ngõ B phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn T2 – Tổng giám đốc.

Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Đình T sinh năm 2004, hộ khẩu thường trú tại tổ A, phường T, quận N, TP Hà Nội; là nhân viên bảo vệ của công ty cổ phần A (gọi tắt là công ty A) từ ngày 06/11/2023. Quá trình làm việc, T được công ty A giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ tài sản (xe đạp, xe máy, ô tô) tại bốt bảo vệ lối ra hầm A4 chung cư I, phường D, quận H, thành phố Hà Nội theo ca trực đã được phân công.

Ngày 03/12/2023, anh Hoàng Hải Đ sinh năm 1998, trú tại phòng 1106 CT1, chung cư I, đường L, phường D, quận H, TP Hà Nội điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA SH 125i dán decal màu đen nhám, biển kiểm soát 29B2-171.08 gửi tại hầm chung cư ICID Complex. Đến ngày 04/12/2023, chị Lê Thị T3 sinh năm 2000 (là vợ của anh Đ) đã sử dụng 01 chiếc chìa khóa Smart Key dự phòng của chiếc xe máy trên để mở cốp xe lấy mũ bảo hiểm, rồi làm thất lạc chiếc chìa khóa Smart Key dự phòng này tại hầm gửi xe của chung cư. Cùng ngày 04/12/2023, trong quá trình làm việc T phát hiện bên trong bốt bảo vệ có một 01 chiếc chìa khóa Smart Key màu đen nhãn hiệu HONDA SH không rõ của ai. Thịnh bấm nút trên chìa khóa Smart Key này thì thấy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA SH 125i màu đen, biển kiểm soát 29B2-171.08 của anh Đăng dựng gần cửa thoát hiểm phát ra ánh đèn và tiếng kêu nên xác định được chiếc chìa khóa là của chiếc xe máy biển kiểm soát 29B2-171.08. Thịnh kiểm tra trên dữ liệu máy tính thì biết được chiếc xe máy này được gửi tại hầm từ ngày 03/12/2023. Vài ngày sau, tại ca làm việc của mình, T vẫn nhìn thấy chiếc chìa khóa SmartKey tại bốt bảo vệ và chiếc xe máy biển kiểm soát 29B2-171.08 tại vị trí cũ nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy trên.

Khoảng 02 giờ ngày 12/12/2023, thời điểm này đang là ca trực bảo vệ tại hầm gửi xe A4 chung cư ICID Complex của T, được nhiệm giao trông giữ xe máy do cư dân gửi bằng hình thức hợp đồng tại hầm A4 chung cư ICID Complex. T quan sát thấy hầm gửi xe vắng người qua lại, T đã lấy chiếc chìa khóa Smart Key đang để tại chốt bảo vệ cho vào túi áo khoác màu đen của T chuẩn bị từ trước, rồi ôm chiếc áo khoác đi vào phòng để dụng cụ vệ sinh khu vực cửa thoát hiểm. Tại đây, T mặc chiếc áo khoác màu đen lên người giả làm cư dân lấy xe nhằm tránh để camera phát hiện (do T đang mặc quần áo đồng phục bảo vệ). Sau đó, T tiến lại gần vị trí chiếc xe máy biển kiểm soát 29B2-171.08, bấm mở khóa xe, điều khiển chiếc xe máy này đến bốt bảo vệ, tự bấm mở thanh chắn, rồi đi ra khỏi hầm gửi xe A4 chung cư ICID Complex để mang chiếc xe máy này đi cất giấu tại hầm gửi xe của tòa nhà F, địa chỉ số D Q, phường L, quận H, TP Hà Nội. Sau khi cất giấu xe máy xong, T đi về hầm A4 chung cư ICID Complex tiếp tục làm việc. Đến khoảng 07 giờ ngày 12/12/2023, sau khi hết ca làm việc, T đi về nhà trọ ở địa chỉ số B L, phường L, quận H, TP Hà Nội thay quần áo bảo vệ, rồi đi bộ đến hầm gửi xe của Tòa nhà F để lấy chiếc xe máy trên mang về nhà trọ. Tại nhà trọ, T bóc toàn bộ decal màu đen nhám dán của xe, để lộ ra màu sơn đen bóng nguyên bản của xe, tháo chiếc biển kiểm soát 29B2-171.08 giấu trên gác xép nhà trọ, tháo 02 (hai) chiếc gương chiếu hậu của xe cất bên trong cốp xe, rồi để xe tại

phòng trọ. Khi thấy T để xe máy ở nhà trọ, bà Nguyễn Thị H (là mẹ đẻ của T) và chị Trương Thanh H1 (là em gái của T) có hỏi về nguồn gốc xe thì T nói dối là xe của bạn T để nhờ vài hôm. Do sợ bị gia đình phát hiện nên khoảng 10 giờ ngày 14/12/2023, T tiếp tục mang chiếc xe máy này đi gửi tại hầm gửi xe Tòa nhà F thì được nhân viên bảo vệ là anh Vũ Ngọc H2 sinh năm 1986, trú tại số D Q, phường L, quận H, TP Hà Nội giao cho 01 thẻ gửi xe máy vãng lai số 00129 của Tòa nhà F1 bằng nhựa.

Đến khoảng 09 giờ ngày 14/12/2023, anh Hoàng Hải Đ đã đến Công an phường D trình báo sự việc nêu trên. Đến khoảng 00 giờ 30 ngày 15/12/2023, Trương Đình T đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật của bản thân. (Bút lục 31,32, 34, 35)

Vật chứng thu giữ do Trương Đình T giao nộp: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH, màu sơn đen, số khung 016113, số máy 0083039, xe đã qua sử dụng do Trương Đình T giao nộp.

Ngày 15/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 289 tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trương Đình T tại địa chỉ số B L, phường L, quận H, TP Hà Nội. Kết quả khám xét khẩn cấp thu giữ tài sản gồm 01 chiếc biển kiểm soát 29B2-171.08; 01 chiếc chìa khóa Smart Key màu đen hình chữ nhật KT(02x05)cm, trên chìa khóa có dòng chữ Honda màu trắng; 02 chiếc gương chiếu hậu, giá gương bằng nhựa màu đen; 01 thẻ gửi xe máy vãng lai số 00129 của Tòa nhà F1 bằng nhựa.

Ngày 15/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã có văn bản Yêu cầu định giá tài sản số 258 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận H định giá đối với tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án trên. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 293/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận H, kết luận: Giá trị 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu đen, BKS: 29B2-171.08, số khung: 016613, số máy: 0083039 là 78.000.000 đồng. (Bút lục 56-60)

Quá trình điều tra xác định: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH, màu sơn Đen, số khung: 016113, số máy: 0083039, xe đã qua sử dụng; 01 chiếc biển kiểm soát 29B2-171.08; 01 chiếc chìa khóa Smart Key màu đen hình chữ nhật KT(02x05)cm, trên chìa khóa có dòng chữ Honda màu trắng; 02 chiếc gương chiếu hậu, giá gương bằng nhựa màu đen là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Hải Đ. Ngày 22/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra Quyết định xử lý vật chứng số 496 bằng cách trao trả lại số tài sản trên cho chủ sở hữu là anh Hoàng Hải Đ là có căn cứ.

Đối với bà Nguyễn Thị H (là mẹ đẻ của T), chị Trương Thanh H1 (là em gái của T) và anh Vũ Ngọc H2 (là nhân viên bảo vệ Tòa nhà F): Quá trình điều tra xác định bà H, chị H1 và anh H2 không biết 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i, màu sơn Đen, biển kểm soát 29B1-171.08 mà T mang về nhà và mang gửi tại hầm gửi xe Tòa nhà F là tài sản do T chiếm đoạt của người khác mà có, nên Cơ quan CSĐT Công an quận H không đề nghị xử lý là có căn cứ.

Đối với 01 thẻ gửi xe máy vãng lai số 00129 của Tòa nhà F bằng nhựa: Quá trình điều tra, đại diện ban F không yêu cầu nhận lại nên cần chuyển để xử lý trong giai đoạn xét xử.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Hoàng Hải Đ đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Trước Cơ quan điều tra, bị can đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS-HĐ ngày 06/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Trương Đình T về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện và Viện kiểm sát truy tố bị cáo như vậy là đúng người, đúng tội, không bị oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Trương Đình T từ 27 năm đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trương Đình T cho Ủy ban nhân dân phường L để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 ( một ) thẻ gửi xe máy vãng lai số 00129 của Tòa nhà F1 bằng nhựa.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không trình bày ý kiến tranh luận gì đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Đình T không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trương Đình T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của bị hại trong vụ án cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 02 giờ ngày 12/12/2023, tại hầm A chung cư I, phường D, quận H, TP Hà Nội. Khi Trương Đình T đang trong ca trực được giao nhiệm vụ trông giữ xe gửi tại hầm gửi xe của chung cư, Trương Đình T đã dùng thủ đoạn gian dối giả làm cư dân lấy chìa khóa xe máy để tại chốt bảo vệ của tòa nhà điều khiển xe máy biển kiểm soát 29B2-171.08 mang về tháo gương, biển kiểm soát, bóc decal của xe để chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i, màu sơn Đen, biển kiểm soát 29B2-171.08 trị giá 78.000.000 đồng của anh Hoàng Hải Đ. Hành vi của bị cáo Trương Đình T đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Trương Đình T về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã có thủ đoạn gian dối giả làm cư dân để chiếm đoạt 01 xe máy trị giá 78.000.000 đồng của anh Hoàng Hải Đ. Vì vậy cần phải được xử lý nghiêm khắc trước pháp luật.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[5].Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trương Đình T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú; tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó bị cáo đủ điều kiện hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6].Về nhân thân:

Bị cáo Trương Đình T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nới cư trú rõ ràng.

[7]. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo trương Đình T4 có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù . Hội đồng xét xử căn cứ Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng án treo.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập, do vậy không cần thiết phái áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[9]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Hoàng Hải Đ đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự nên HĐXX không xem xét.

[10].Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 thẻ gửi xe máy vãng lai số 00129 của Tòa nhà F1 bằng nhựa là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[11]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

[12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Trương Đình T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 175 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/ NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

Xử phạt: Trương Đình T 30 ( ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách 60 ( sáu mươi ) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Trương Đình T đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Trương Đình T cho Ủy ban nhân dân phường L để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Trương Đình T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát quận Hà Đông;
  • - Thi hành án quận Hà Đông;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu.

TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 93/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trương Đình T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger