|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày: 27-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đậu Cao Nhu.
- Ông Hồ Hữu Thỏa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kiều - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26, 27 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị T (tên gọi khác: không); sinh năm: 1986 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Công chức; Đảng viên Đ bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 185-QĐ/UBKTHU ngày 11/01/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Q1; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn V và bà: Trần Thị T1; chồng, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: từ ngày 28/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T2, chức vụ: Chủ tịch UBND xã Q Có mặt khi xét xử vắng mặt khi tuyên án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Xuân G, sinh năm 1964. Nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1971. Nơi cư trú: xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Ông Hồ Đình T4, sinh năm 1947. Nơi cư trú: xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Ông Đặng Văn L, sinh năm 1959. Nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Lê Minh L1, sinh năm 1970. Nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Ông Phạm Thành C, sinh năm 1964. Nơi cư trú: khối A, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Phan Tuấn A, sinh năm 1996. Nơi cư trú: xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1989. Nơi cư trú: xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Ông Lê Minh T5, sinh năm 1982. Nơi cư trú: thôn F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Ông Ngô Văn T6, sinh năm 1963. Nơi cư trú: xóm F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Khắc K, sinh năm 1989. Nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Bà Vũ Thị T7, sinh năm 1953. Nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1965. Nơi cư trú: xóm F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Ông Trương Văn H1, sinh năm 1980. Nơi cư trú: xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bà Trương Thị Lệ T8, sinh năm 1986. Nơi cư trú: xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1973. Nơi cư trú: xóm E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1982. Nơi cư trú: xóm E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Ông Đặng L3, sinh năm 1960. Nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1960. Nơi cư trú: xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1980. Nơi cư trú: khối I, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Trương Văn H4, sinh năm 1973. Nơi cư trú: xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T9, sinh năm 1962. Nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Ông Trương Văn H5, sinh năm 1970. Nơi cư trú: xóm F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị T là Công chức Văn phòng kiêm Thủ quỹ UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Theo Quyết định số 91/QĐ-UBND ngày 03/6/2020 của UBND xã Q về việc giao nhiệm vụ cho công chức làm công tác kiêm nhiệm công việc thủ quỹ, T có nhiệm vụ quản lý, theo dõi tình hình nhập, xuất quỹ tiền mặt ở xã, bao gồm: tiền ngân sách rút từ Kho bạc Nhà nước về để chi, các khoản tiền thu hộ cấp trên, các loại quỹ và các khoản tiền mặt khác của xã. Hàng quý phải kiểm tiền mặt tồn quỹ thực tế, đối chiếu với số liệu trên sổ quỹ, giữa số tồn quỹ với số liệu trên sổ kế toán. Nếu có chênh lệch phải xác định nguyên nhân và kiến nghị xử lý số chênh lệch, bảo quản an toàn quỹ tiền mặt của đơn vị theo đúng quy định
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Thủ quỹ UBND xã Q từ tháng 01/2023 đến tháng 7/2023, để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, mỗi tháng sau khi nhận tiền của UBND xã tại Ngân hàng thương mại cổ phần C1 (V1) và làm các thủ tục nhập quỹ UBND xã để quản lý, cất giữ chờ chi trả tiền phụ cấp cho lực lượng bán chuyên trách và hoạt động khác của các ban ngành, đoàn thể. Trần Thị T đã chiếm đoạt một phần trong số tiền này để chi tiêu mục đích cá nhân. Theo quy định của UBND xã, ngày 23 hàng tháng, T phải thực hiện chi trả cho các cá nhân, tập thể đối với những phiếu chi được chủ tịch UBND xã duyệt chi và Kế toán UBND xã chuyển bảng kê đến. Tuy nhiên, do đã sử dụng hết tiền nên T không còn tiền để chi trả nên T đưa ra các thông tin như “Chưa rút được tiền phụ cấp nên chưa có trả đồng thời hứa hẹn khi nào có tiền sẽ chi trả ngay”, “tài khoản bị lỗi” “quên chìa khóa két”... Để hợp thức hóa hồ sơ quyết toán T còn đưa các phiếu nhận tiền cho một số cá nhân, đại diện các Ban ngành, đoàn thể ký vào mục đã nhận tiền (nhưng thực chất họ chưa được nhận). Đối với số tiền tồn quỹ tiền mặt T cũng nhiều lần tự ý sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
Bằng hình thức trên, T đã chiếm đoạt chiếm đoạt của UBND xã Q số tiền 489.815.865đ (bốn trăm tám mươi chín triệu tám trăm mười lăm nghìn tám trăm sáu mươi lăm đồng) gồm các khoản sau:
Tiền tồn từ quỹ tiền mặt (các khoản tiền UBND xã thu trừ chi từ các năm chuyển sang hàng năm) của U đến ngày 31/7/2023: 41.240.815đ (bốn mươi mốt triệu hai trăm bốn mươi nghìn tám trăm mười lăm đồng).
Tiền phụ cấp của lực lượng bán chuyên trách từ tháng 1/2023 đến tháng 7/2023: 51.214.950đ (năm mươi mốt triệu hai trăm mười bốn nghìn chín trăm năm mươi đồng).
Tiền hoạt động thường xuyên của các ban, ngành đoàn thể từ tháng 1/2023 đến tháng 7/2023: 73.581.000đ (bảy mươi ba triệu năm trăm tám mươi mốt nghìn đồng).
Quỹ đền M: 30.217.000đ (ba mươi triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng).
Tiền thu sản lượng vụ 5/2023 tính đến ngày 20/7/2023: 152.722.800đ (một trăm năm mươi hai triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn tám trăm đồng).
Tiền quỹ nhân đạo: 31.081.500đ (ba mươi mốt triệu không trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm đồng).
Tiền quỹ đền ơn đáp nghĩa: 8.312.400đ (tám triệu ba trăm mười hai nghìn bốn trăm đồng).
Tiền quỹ vệ sinh môi trường: 101.445.400đ (một trăm linh một triệu bốn trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm đồng).
Ngày 28/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp nơi làm việc. Trần Thị T xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Bản cáo trạng số 93/CT-VKS-QL ngày 04/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Trần Thị T về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị T từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù về tội “Tham ô tài sản”.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Trách nhiệm dân sự: công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, UBND xã Q có nghĩa vụ trả lại cho bị cáo Trần Thị T số tiền bồi thường còn thừa là 35.363.000đ (ba mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
Án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: rất ăn năn hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt để cải tạo sớm trở về với gia đình, xã hội, làm lại cuộc đời.
Đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị T thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận Trần Thị T là Công chức Văn phòng kiêm Thủ quỹ, có trách nhiệm quản lý, cất giữ quỹ của UBND xã Q, trong khoảng thời gian từ tháng 01/2023 đến tháng 7/2023, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao chiếm đoạt số tiền 489.815.865 đồng (Bốn trăm tám mươi chín triệu tám trăm mười lăm nghìn tám trăm sáu mươi lăm đồng) của Ủy ban nhân dân xã Q Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong nhà nước, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Q truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, đầu thú, UBND xã Q xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bản thân bị cáo được Cục Thống kê tỉnh N, UBND xã Q tặng Giấy khen; ông nội bị cáo (ông Trần Xuân Y) được Ủy ban hành chánh tỉnh N trao tặng Huy hiệu chiến dịch A1 – Ngãi quật khởi. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và cũng phù hợp với nguyên tắc xử lý đối với tội phạm tham nhũng, tội phạm khác về chức vụ được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020.
[4] Hình phạt bổ sung: bị cáo bị xử phạt tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường tổng số tiền 525.179.115đ (năm trăm hai mươi lăm triệu một trăm bảy mươi chín nghìn một trăm mười lăm đồng) cho UBND xã Q UBND xã Q đã chi trả đầy đủ cho các cá nhân, tập thể có liên quan nên những người này không yêu cầu gì nữa. Bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả vượt quá số tiền chiếm đoạt 35.363.250đ (ba mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm năm mươi đồng), bị cáo đề nghị được nhận lại số tiền này, đại diện UBND xã Q thống nhất trả lại số tiền bồi thường vượt quá cho bị cáo. Nên công nhận sự thỏa thuận UBND xã Q có nghĩa vụ trả lại cho bị cáo T số tiền 35.363.250đ (ba mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm năm mươi đồng).
[6] Về những vấn đề khác: ông Nguyễn Văn T3 - Kế toán UBND xã Q trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kế toán cấp xã, hàng tháng không tiến hành kiểm kê, đối chiếu giữa sổ quỹ tiền mặt của kế toán với sổ tiền mặt của Thủ quỹ và tiền mặt trong két của thủ quỹ theo quy định dẫn đến không quản lý được số tiền mặt thực tế dẫn đến số tiền này bị chiếm đoạt. Ông Nguyễn Thanh T2 - Chủ tịch UBND xã Q, là chủ tài khoản của UBND xã Q, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đã thiếu kiểm tra, đôn đốc kế toán, thủ quỹ tiến hành đối chiếu, kiểm kê quỹ tiền mặt mà Thủ quỹ đang quản lý, cất giữ nên chưa kịp thời phát hiện sai phạm của Trần Thị T. Ông Nguyễn Xuân G - Phó Chủ tịch UBND xã là Chủ tài khoản của 03 loại Quỹ (Quỹ nhân đạo, Quỹ đền ơn đáp nghĩa và Quỹ vệ sinh môi trường), quá trình thực hiện nhiệm vụ, đã thiếu kiểm tra, đôn đốc kế toán, thủ quỹ để tiến hành đối chiếu, kiểm kê quỹ tiền mặt mà Thủ quỹ đang quản lý, cất giữ dẫn đến xảy ra thiệt hại. Hành vi của các ông là thiếu trách nhiệm nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Viện kiểm sát huyện Q sẽ có văn bản kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị T 04 (B) năm tù, về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 28/12/2023).
- Trách nhiệm dân sự: UBND xã Q có nghĩa vụ trả lại cho bị cáo Trần Thị T số tiền 35.363.250đ (ba mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm năm mươi đồng).
- Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Trần Thị T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về tham ô tài sản
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Th phạm tội Tham ô tài sản
