Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THÀNH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 93/2024/HSST Ngày 26 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Lê Anh Đức - ông Hồ Sỹ Cường

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Nguyễn Bá Kiên - Chức vụ: Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên toà: ông Vũ Thị Ngân - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/HSST ngày 22/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:86/2024/QĐXXST-HS, ngày 16/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị D (tên gọi khác: Không): Giới tính: Nữ. Sinh ngày 10 tháng 8 năm 1974 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm A, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng: Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: 5/12. Con ông Trần Khắc T và bà Phạm Thị L: Chồng: Phạm Xuân S và 03 con. Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ từ ngày 21/5/2024 đến ngày 30/5/2024 thì bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (tại ngoại - Có mặt).

- Người làm chứng:

  • +/Chị Lô Thị P - sinh năm 1980; trú tại: Bản P, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
  • +/Anh Hoàng Văn T1 - sinh năm 1986; trú tại: xóm X, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
  • +/Anh Nguyễn Duy Đ, sinh năn 2001; trú tại: xóm C, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
  • +/Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982; trú tại: Thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)
  • +/Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; trú tại: xóm N, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Trần Thị D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào đầu tháng 9 năm 2022, anh Phạm Xuân S, sinh năm 1969, trú tại xóm A, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An (chồng của bị cáo) thuê căn nhà 2 tầng tại ngã tư thuộc xóm A, xã C của chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985, trú tại số 1, ngách B tổ B, phường Q, quận C, TP Hà Nội để kinh doanh. Sau đó, D nhờ anh Phạm Xuân H2, sinh năm 1985; trú tại: xóm A, xã C, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An (em chồng của D) đứng tên đăng ký kinh doanh nhà nghỉ 999 để kinh doanh dịch vụ nghỉ trọ. Sau khi đăng ký kinh doanh, Trần Thị D là người trực tiếp quản lý nhà nghỉ I.

Ngày 07/5/2024, ngày 19/5/2024 và ngày 20/5/2024 khi D đang ở nhà nghỉ I thì lần lượt có Kha Thị S1, sinh năm 1977, trú tại Bản C, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nguyễn Thị H, sinh năm 1982, trú tại thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình và Lô Thị P, sinh năm 1983, trú tại Bản P, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An đến nhà nghỉ 999 tìm gặp Trần Thị D để xin ở lại nhà nghỉ bán dâm cho khách thì D đồng ý, D thỏa thuận, thống nhất với S1, H và P là D sẽ lo ăn, ở còn giá bán dâm là 200.000 đồng/mỗi khách, số tiền bán dâm được sẽ chia đôi, D 100.000 đồng và người bán dâm 100.000 đồng. Sau đó, D bố trí cho S1 ở và bán dâm tại phòng 202, tầng 02; H ở và bán dâm tại phòng nghỉ thứ hai tầng 01; P ở và bán dâm tại phòng nghỉ thứ ba tầng 01 nhà nghỉ 999.

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 21/05/2024, Hoàng Văn T1, sinh năm 1986, trú tại xóm X, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An và Nguyễn Duy Đ, sinh năm 2001, trú tại xóm C, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An đến nhà nghỉ I gặp D hỏi mua dâm. D và T1 trao đổi, thống nhất với nhau giá mua bán dâm là 200.000 đồng/người, hai người là 400.000 đồng. Sau khi nhận tiền, D dẫn T1 đến phòng nghỉ thứ 02, tầng 01 của H và dẫn Đ đến phòng nghỉ thứ 03, tầng 01 của P để thực hiện hành vi mua bán dâm (quan hệ tình dục).

Đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra nhà nghỉ I, phát hiện tại phòng nghỉ thứ 03, tầng 01 P và Đ đang quan hệ tình dục với nhau, thu giữ 01 chiếc vỏ bao cao su đã bị bóc xé, 01 chiếc bao cao su đã qua sử dụng; tại phòng nghỉ thứ 02 tầng 01 Hòa và Thế nằm trên giường đã cởi quần áo chuẩn bị quan hệ tình dục với nhau, thu giữ 22 bao cao su chưa qua sử dụng; thu giữ tại phòng nghỉ tầng 01: 02 hộp bao cao su "Condom” màu xanh chưa qua sử dụng, 02 hộp bao cao su "Condom” màu vàng chưa qua sử dụng; thu giữ 400.000 đồng là tiền mua bán dâm do D giao nộp.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo D đã thừa nhận hành vi của mình.

Tại bản cáo trạng số 90/VKS - HS, ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành đã truy tố Trần Thị D về tội "Chứa mại dâm" theo quy định tại khoản 1 Điều 327 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 65 BLHS xử phạt Trần Thị D từ 18 - 21 tháng tù nhưng cho hưởng án theo thời gian thử thách từ 36 - 42 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số vật chứng theo quy định.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 400.000 đồng là tiền bán dâm tại Giấy nộp tiền ngày 22/8/2024.

-Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định.

Bị cáo không có tranh luận gì thêm. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa công khai, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ được là hoàn toàn phù hợp với nhau. Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thì trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng các quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Căn cứ buộc tội: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 21/05/2024, tại nhà nghỉ I ở xóm A, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An (do Trần Thị D trực tiếp quản lý, kinh doanh), Trần Thị D đồng ý cho Nguyễn Thị H và Lô Thị P bán dâm cho hai đối đượng là Hoàng Văn T1 và Nguyễn Duy Đ với số tiền 400.000 đồng. Trước khi bán dâm các đối tượng thống nhất số tiền bán dâm D được hưởng một nửa, người bán dâm được hưởng một nửa. Đến khoảng 12 giờ 20 phút thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện và lập biên bản về hành vi mua bán dâm. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo Trần Thị D về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 BLHS là có căn cứ, đúng quy định.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm hại đến trật tự công cộng, xâm phạm đạo đức, nếp sống văn minh, đây là một trong những tệ nạn đang bị xã hội lên án nên cần xử lý nghiêm bằng biện pháp hình sự đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố mẹ được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra vì vậy cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước. Không nhất thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương cùng gia đình giám sát, giáo dục cũng đủ nghiêm.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối bị cáo, tuy nhiên xét bị cáo hiện nay hoàn cảnh kinh tế khó khăn vì thế không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

Đối với hành vi mua bán dâm của Hoàng Văn T1, Nguyễn Duy Đ, Lô Thị P đã bị Công an huyện Y xử phạt hành chính về hành vi nêu trên là thỏa đáng.

Đối với Nguyễn Thị H, do chưa thực hiện hành vi giao cấu với Hoàng Văn T1 nên hành vi bán dâm của Nguyễn Thị H chưa hoàn thành, do đó Công an huyện Y không xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị H là đúng quy định.

Đối với chị Nguyễn Thị H1 là người cho anh Phạm Xuân S (chồng bị cáo D) thuê nhà, sau đó anh S đi chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam N, tỉnh Quảng Trị. Phạm Xuân H2 là em chồng của D đứng tên đăng ký chủ hộ kinh doanh nhưng giao nhà nghỉ cho bị cáo D trực tiếp quản lý, kinh doanh. Tuy nhiên những người này đều không biết bị cáo D sử dụng nhà nghỉ I để thực hiện hành vi chứa mại dâm nên không xem xét xử lý là đúng quy định.

- Về vật chứng:

  • +/ Đối với 01 vỏ bao cao su, nhãn hiệu “Condom”, màu xanh, đã bị bóc xé; 01 bao sao su đã qua sử dụng thu giữ tại phòng ngủ thứ 01 tầng 01 nhà nghỉ 999 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.
  • +/ Đối với 22 bao sao su, nhãn hiệu “Comdom”, màu xanh, chưa qua sử dụng thu giữ tại phòng ngủ thứ 02 tầng 01 nhà nghỉ 999 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.
  • +/ Đối với 02 hộp bao cao su nhãn hiệu “Condom”, màu xanh, chưa qua sử dụng và 02 hộp bao cao su nhãn hiệu “Condom", màu vàng, chưa qua sử dụng thu giữ tại phòng ngủ tầng 01 nhà nghỉ 999 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.

(Vật chứng được chuyển giao cho chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý tại phiếu nhập kho số NK 0094 ngày 26/8/2024).

+/ Đối với số tiền 400.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Thị D là tiền mua bán dâm nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định.

(Số tiền này hiện đang được gửi Kho bạc Nhà nước huyện Y tại giấy nhận tiền ngày 22/8/2024)

-Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Thị D 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “chứa mại dâm” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 42 (bốn mươi hai tháng) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Thị D cho UBND xã C, huyện Y giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • +/Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao cao su, nhãn hiệu “Condom”, màu xanh, đã bị bóc xé; 01 bao sao su đã qua sử dụng thu giữ tại phòng ngủ thứ 01 tầng 01 nhà nghỉ 999; 22 bao sao su, nhãn hiệu “Comdom", màu xanh, chưa qua sử dụng thu giữ tại phòng ngủ thứ 02 tầng 01 nhà nghỉ I và 02 hộp bao cao su nhãn hiệu "Condom”, màu xanh, chưa qua sử dụng và 02 hộp bao cao su nhãn hiệu “Condom”, màu vàng, chưa qua sử dụng thu giữ tại phòng ngủ tầng 01 nhà nghỉ 999.

(Vật chứng được chuyển giao cho chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý tại phiếu nhập kho số NK 0094 ngày 26/8/2024).

  • +/Tịch thu sung quỹ nhà nước: Số tiền 400.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Thị D là tiền mua bán dâm (Giấy nộp tiền ngày 22/8/2024);

- Về án phí: Căn cứ vào điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Trần Thị D phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Nhung

Nơi nhận

  • - VKSND H. Yên Thành
  • - THADS Yên Thành
  • - THA, hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Tòa án tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp;
  • - Công an H. Yên Thành;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Công Thành;
  • - Lưu hồ sơ;
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN về chứa mại dâm

  • Số bản án: 93/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Dung phạm tội Chứa Mại Dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger