Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HS-PT

Ngày 16 - 08 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Trung Dũng.

Ông Trần Minh Bắc.

- Thư ký phiên tòa: bà Đào Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Ngày 16 tháng 08 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 99/2024/HSPT ngày 18/6/2024 đối với các bị cáo Nguyễn Đức D, Nguyễn Thị T, Nguyễn Phương L, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Xuân T1, Huỳnh Văn N, Võ Thành H, Nguyễn Văn P, Nguyễn Chí T2 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Đức D (tên gọi khác: B), sinh năm 1983 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: thôn Q, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễn Đăng B1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1959; vợ: Nguyễn Trang Cẩm N1, sinh năm 1987, con: 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015;

    Tiền án: không; tiền sự: không.

    Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  2. Nguyễn Thị T, sinh năm 1970 tại Quảng Ngãi; nơi đăng ký thường trú: thôn H, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễn K (đã chết) và bà Phạm Thị H2 (đã chết); chồng: Nguyễn Lộc T3, sinh năm 1976 (đã ly hôn), con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2005;

    Tiền án: không; tiền sự: không;

    Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  3. Nguyễn Phương L, sinh năm 1973 tại Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễn Phương H3 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm 1949; chồng: Trương Thiện T4 (đã chết), con: 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2000;

    Tiền án: không; tiền sự: không;

    Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  4. Nguyễn Ngọc S (tên gọi khác: T5), sinh năm 1998 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: thợ xăm; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1967 và bà Vũ Thị Ngọc T6, sinh năm 1978; vợ: Nguyễn Thị Hoài T7, sinh năm 2003;

    Tiền án: không; tiền sự: không;

    Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  5. Hoàng Xuân T1 (tên gọi khác: N2), sinh năm 1980 tại Quảng Trị; nơi đăng ký thường trú: thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Hoàng Xuân T8, sinh năm 1943 và bà Lê Thị M (đã chết);

    Tiền án: không; tiền sự: không;

    Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  6. Huỳnh Văn N, sinh năm 1978 tại Quảng Ngãi; nơi cư trú: khu phố P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Huỳnh B2, sinh năm 1954 và bà Trần Thị T9, sinh năm 1956; vợ: Nguyễn Thị Hồng Q, sinh năm 1981, con: có 01 con sinh năm 2003;

    Tiền án: không; tiền sự: không;

    Nhân thân:

    Tại Bản án số 14/HSST ngày 12/9/1999, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân” và 04 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân” (bị cáo đã chấp hành xong);

    Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  7. Võ Thành H (tên gọi khác: Hải L1), sinh năm 1980 tại Bình Định; nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh, giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Võ Văn B3, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1953; vợ: Văn Thị Thanh T10, sinh năm 1982 (đã ly hôn), con: 01 con sinh năm 2008;

    Tiền án: không; tiền sự: không;

    Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  8. Nguyễn Văn P (tên gọi khác: Phước Đ), sinh năm 1974 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: thôn G, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: thôn L, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: thợ cây cảnh; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn N3 (đã chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1959; vợ: Phan Thị Ngọc H5, sinh năm 1973, con: 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007;

    Tiền án: không; tiền sự: không;

    Nhân thân:

    Tại Bản án số 46/2007/HSST ngày 20/7/2007, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 04 tháng 07 ngày tù về tội “Đánh bạc”.

    Tại Bản án số 15/HSST ngày 20/6/1995, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuyên phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.

    Bị cáo bị tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

  9. Nguyễn Chí T2, sinh năm 1967 tại Quảng Trị; nơi đăng ký thường trú: thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: chăn nuôi; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Nguyễn T11 (đã chết) và bà Phan Thị Đ1 (đã chết); vợ: Phan Thị L3 sinh năm 1970; con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2003;

    Tiền án: không; tiền sự: không;

    Bị cáo bị tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Đỗ Thị Kim H6, Đỗ Thị Bích L4, Lê Thanh T12, Lê Thị N4 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 19/02/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có nhiều đối tượng tụ tập đánh bạc tại nhà Nguyễn Thị T (ở thôn Đ, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phối hợp với Công an xã S bắt quả tang Nguyễn Đức D, Nguyễn Thị T, Nguyễn Phương L, Nguyễn Chí T2, Lê Thanh T12, Lê Thị N4, Huỳnh Văn N, Đỗ Thị Kim H6 và Nguyễn Xuân Đ2 (sinh năm: 1954, trú tại thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) có hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc. Tang vật thu giữ gồm: 14.400.000 đồng trên chiếu bạc; 01 hủ nhựa bên trong có 3.000.000 đồng tiền xâu; 06 bộ bài tây 52 lá; 04 con vị hình tròn cắt từ bộ bài tây 52 lá; 01 chén nhựa màu xanh hình hoa văn; 01 chiếc dĩa nhựa màu trắng hình hoa văn; 01 chiếc mền màu đỏ hình hoa văn, kích thước 1,4m x 2,2m; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave @ biển số 72F1-583.37; 02 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius (biển số 72F1-361.13, 72X3-0439); 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số 72F1-355.44; 01 xe mô tô hiệu Exciter biển số 72F1-836.13; 01 điện thoại di động hiệu Vivo; 01 điện thoại di động hiệu Realme C12; 01 điện thoại di động hiệu Masstel; thu trong người các con bạc tổng số tiền 51.950.000 đồng (gồm T2 11.300.000 đồng, N 1.000.000 đồng, L 1.200.000 đồng, T12 1.820.000 đồng, Đ2 260.000 đồng, N4 34.470.000 đồng, H6 1.900.000 đồng).

Quá trình điều tra xác định vào khoảng 19 giờ ngày 18/02/2023, Nguyễn Đức D, Nguyễn Thị T, Nguyễn Phương L, Nguyễn Chí T2, Lê Thanh T12, Lê Thị N4, Huỳnh Văn N, Đỗ Thị Kim H6 và Nguyễn Xuân Đ2, Nguyễn Xuân H7, Hoàng Xuân T1, Nguyễn Văn P, Đỗ Thị Bích L4, Nguyễn Ngọc S đến nhà Nguyễn Thị T chơi. Sau đó, T2, D, P, T1, T12, N4, S và Đ2 tham gia đánh bài cào 03 lá ăn tiền. Hình thức chơi: mỗi ván sẽ có 09 tụ bài, ngoài ra người chơi muốn tham gia thì đặt ké vào một trong 09 tụ bài này. Theo quy định thì mỗi người được làm cái từ 03 - 04 ván rồi xoay vòng cho người khác. Người nào không muốn làm cái thì được bỏ qua. Người làm cái sẽ chia cho mỗi tụ 03 lá bài. Sau khi chia xong thì người chơi mở bài tính điểm của ai cao hơn so với người làm cái thì thắng; ngược lại thì thua người làm cái; tỷ lệ thắng thua là 1.1. Điểm của 03 lá bài được tính từ 0 đến 09 rồi đến sáp (tức là 03 lá bài giống nhau có thứ tự liên tiếp sắp xếp từ nhỏ đến lớn 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A). Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, cả nhóm nghỉ không chơi nữa và chuyển xuống nhà bếp đánh bài xóc đĩa ăn tiền. Lúc này, T2, H6, S, N, H7, L4 đánh bài xóc đĩa ăn tiền. Hình thức chơi: các con bạc sử dụng 01 chén nhựa, 01 đĩa sứ và 04 con vị hình tròn cắt từ bộ bài tây 52 lá để xóc đĩa (04 con vị đều có hai mặt màu sắc khác nhau, quy ước mặt sấp và mặt ngửa tương ứng với màu lá bài). Mọi người thay phiên nhau làm cái xóc đĩa còn các con bạc khác thì đặt tiền vào hai bên chẳn - lẽ (nếu có 04 con vị đều úp hoặc đều ngửa hoặc 02 con vị úp và 02 con vị lẻ gọi là chẳn; nếu 01 con vị úp, 03 con vị ngửa hoặc 01 con vị ngửa, 03 con vị úp gọi là lẻ); tỷ lệ ăn thua là 1.1. Chơi đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 19/02/2023, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phối hợp với Công an xã S bắt quả tang và thu giữ tang vật như vừa nêu trên.

Các bị cáo khai nhận hành vi đánh bạc của mình cụ thể như sau:

Hành vi của Nguyễn Đức D: khi D đến nhà T nhậu vào ngày 18/02/2023 thì T thỏa thuận với D nếu gọi người đến nhà T đánh bạc thì sẽ cho D tiền công nên D sử dụng điện thoại di động hiệu Vivo gọi điện thoại rủ Nguyễn Ngọc S và Nguyễn Quốc V1 (sinh năm: 1983, trú tại thôn B, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đến nhà Nguyễn Thị T đánh bạc. Tuy nhiên, do Vũ bận nên không đến đánh bạc mà chỉ có S đến đánh bạc cùng. D có sử dụng 1.200.000 đồng để đánh bài cào 03 lá. Duy đặt cược được 06 ván, mỗi ván 200.000 đồng và bị thua. Sau đó các bị cáo khác chuyển sang đánh xóc đĩa ăn tiền nên D nghỉ không chơi nữa và ngồi xem. Khi bị bắt quả tang thì thu giữ của D 01 xe mô tô biển số 72F1-361.13 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo.

Hành vi của Nguyễn Thị T: T không tham gia đánh bạc nhưng đồng ý cho các bị cáo trên đánh bạc tại nhà mình để thu tiền xâu. Theo quy định thì mỗi người chơi sẽ đóng cho T 100.000 đồng tiền xâu/02 tiếng đánh bạc. Cứ 02 tiếng thì T đi lấy tiền xâu 01 lần. Ngoài ra, một số con bạc thắng bạc có cho T thêm tiền xâu nhưng không bắt buộc. Vì sợ bị phát hiện nên T khóa cổng nhà lại rồi nằm ở võng để vừa cảnh giới lực lượng Công an và mở cửa cổng cho các con bạc khác đến đánh bạc hoặc đi về. T nhờ Nguyễn Phương L trông coi và lấy tiền xâu giúp cho T. Đồng thời, T thỏa thuận với Nguyễn Đức D về việc khi D gọi người đến nhà T đánh bạc thì T sẽ cho D tiền công là 200.000 đồng. Khi bị bắt quả tang thì thu giữ được của T 01 hủ nhựa bên trong đựng 3.000.000 đồng tiền xâu.

Hành vi của Nguyễn Phương L: khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/02/2023, L đến nhà T chơi thì thấy có nhiều người đánh bạc. Lúc này, T nhờ L “giữ giúp chị ống tiền xâu”, L đồng ý. L cầm ống tiền xâu đi xung quanh để thu tiền xâu. L không biết mức thu tiền xâu cụ thể là bao nhiêu nên ai đưa bao nhiêu tiền xâu thì L lấy rồi bỏ vào hủ nhựa đựng tiền xâu. Khi mọi người chuyển sang đánh xóc đĩa ăn tiền thì L để hủ đựng tiền xâu ở dưới bếp rồi đi vào phòng nằm nghỉ. Khi bị bắt quả tang thì thu giữ của L 01 xe mô biển số 72F1-355.44 và 1.200.000 đồng (không sử dụng vào mục đích đánh bạc).

Hành vi của Nguyễn Chí T2: sử dụng 14.400.000 đồng để đánh bạc. Khi đánh bài cào 03 lá thì T2 đặt được khoảng hơn 10 ván, mỗi ván từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng. T2 chơi thắng được 02 ván nên cho Lê Thanh T12 500.000 đồng để T12 đánh bạc. Sau khi thua hết 1.800.000 đồng thì T2 không chơi nữa mà ngồi nhậu. Đến khoảng 20 phút sau, T2 tiếp tục mang số tiền còn lại đánh xóc đĩa ăn tiền. T2 đặt được khoảng 5-6 ván, mỗi ván từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng và đều thua. Khi bị bắt quả tang T2 bị thu giữ 11.300.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Realme C12 và 01 xe mô tô biển số 72X3-0439.

Hành vi của Nguyễn Văn P: sử dụng 5.500.000 đồng để đánh bạc. Chơi được một lúc thì P thắng được 15.000.000 đồng. Trong quá trình đánh bài, P nhờ Hoàng Xuân T1 xào bài, chia bài và thu tiền thắng thua giúp P. P để toàn bộ tiền trên chiếu bạc, trước mặt của Hoàng Xuân T1 để T1 dễ chia tiền thắng thua giúp mình. Chơi đến khoảng 09 ván thì P thua hết toàn bộ số tiền trên nên đi về nhà ngủ. Ngày 24/02/2023, P đến Cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Hành vi của Hoàng Xuân T1: khoảng 18 giờ ngày 18/02/2023, T1 đến nhà T ăn lẩu rồi ngồi xem mọi người đánh bài ăn tiền. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, do Nguyễn Văn P làm cái bị thua nhiều nên nhờ Thức chia bài và thu tiền thắng thua giúp. Thức chia bài và trả tiền thắng thua được khoảng 03 ván thì nghỉ. Sau đó, T1 sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, đặt cược 04 ván, mỗi ván từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng và thắng được 600.000 đồng. Sau đó mọi người chuyển sang chơi xóc đĩa nên T1 không chơi nữa rồi đi về. Đến ngày 24/02/2023, T1 đến Cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Hành vi của Lê Thanh T12: sử dụng 620.000 đồng đánh bạc, đặt cược khoảng 08 ván, mỗi ván từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, T12 thắng được 1.200.000 đồng thì mọi người chuyển sang chơi xóc đĩa nên T12 nghỉ không chơi nữa. Khi bị bắt quả tang, T12 bị thu giữ 1.820.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Masstel.

Hành vi của Đỗ Thị Kim H6: mượn của N5 (không rõ họ tên, địa chỉ) 2.000.000 đồng để đánh bạc. H6 đặt cược 12 ván, mỗi ván từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thắng được 400.000 đồng. H6 sử dụng 2.400.000 đồng đánh xóc đĩa ăn tiền, đặt cược khoảng 10 ván, mỗi ván từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Khi đang chơi thì bị bắt quả tang, thu giữ của H6 1.900.000 đồng.

Hành vi của Lê Thị N4: sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc và 100.000 đồng trả tiền xâu cho T. N4 đặt cược 02 ván mỗi ván 200.000 đồng và bị thua. Sau đó, mọi người chuyển sang đánh xóc đĩa nên N4 không chơi nữa mà cho L5 (không rõ họ tên, địa chỉ) mượn 2.000.000 đồng để đánh bạc rồi đi vào phòng nằm nhà T nghỉ. Khi bị bắt quả tang thu giữ của N4 34.470.000 đồng.

Hành vi của Nguyễn Ngọc S: sử dụng 1.800.000 đồng để đánh bạc, đặt cược khoảng 10 ván mỗi ván từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng. Khi chuyển sang đánh xóc đĩa S đặt cược 02 ván thua hết 700.000 đồng thì bị Công an ập vào bắt quả tang nên S bỏ chạy thoát.

Hành vi của Huỳnh Văn N: khoảng 20 giờ ngày 18/02/2023, N đến nhà T chơi. Khi mọi người rủ đánh xóc đĩa ăn tiền thì N lấy chén, dĩa và cắt 04 con vị hình tròn từ bộ bài tây 52 lá để xóc đĩa. N xóc đĩa cho mọi người đặt cược, ai muốn mở chén thì tự chung chi tiền thắng thua bạc. N sử dụng 1.100.000 đồng để đánh bạc, đặt cược 1 ván với số tiền 100.000 đồng và bị thua. Khi bị bắt quả tang thì thu giữ của N 1.000.000 đồng và 01 xe mô tô biển số 72F1-836.13.

Hành vi của Võ Thành H: sử dụng 700.000 đồng để đánh bạc, đặt cược 10 ván mỗi ván từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thắng được khoảng 10.000.000 đồng. Khi cả nhóm chuyển sang đánh xóc đĩa ăn tiền thì H cho S1 (không rõ họ tên, địa chỉ) mượn 10.000.000 đồng rồi đi về nhà. Ngày 24/02/2023, H đến Cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Hành vi của Đỗ Thị Bích L4: sử dụng 900.000 đồng để đánh bạc, đặt cược 05 ván mỗi ván từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng và thắng được 1.000.000 đồng. Khi mọi người chuyển sang chơi xóc đĩa thì L4 không chơi nữa mà đi về nhà.

Hành vi của Nguyễn Xuân Đ2: Mang theo 360.000 đồng đi nhậu. Khi tới nhà T thấy mọi người đánh bạc nên Đ2 đặt ké tụ (không nhớ tụ của ai) 01 ván với số tiền 200.000 đồng và bị thua nên không chơi nữa. Sau đó, có 01 người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) cho Đ2 100.000 đồng. Khi bị bắt quả tang thu giữ của Đ2 260.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HSST ngày 26/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Phương L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Văn P, Huỳnh Văn N, Nguyễn Chí T2, Đỗ Thị Kim H6, Nguyễn Ngọc S, Đỗ Thị Bích L4, Võ Thành H, Lê Thanh T12, Lê Thị N4 và Hoàng Xuân T1 phạm tội “Đánh bạc”;

  1. Áp dụng Khoản 1 Điều 322; Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đức D 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2023 đến ngày 28/02/2023;
  2. Áp dụng Khoản 1 Điều 322; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2023 đến ngày 28/02/2023.
  3. Áp dụng Khoản 1 Điều 322; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Phương L 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2023 đến ngày 28/02/2023.
  4. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Huỳnh Văn N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2023 đến ngày 28/02/2023; tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn P 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/02/2023 đến ngày 02/3/2023.
  5. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Chí T2 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2023 đến ngày 28/02/2023; tuyên phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án;
  6. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Hoàng Xuân T1 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 24/02/2023 đến ngày 02/3/2023; tuyên phạt bị cáo Võ Thành H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/02/2023 đến ngày 02/3/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử các bị cáo Đỗ Thị Kim H6, Lê Thị N4, Đỗ Thị Bích Liên từ H9 (tám) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, tuyên xử bị cáo Lê Thành T13 07 (bảy) tháng 23 (hai mươi ba) ngày tù; tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 02 đến ngày 06/5/2024, các bị cáo Nguyễn Đức D, Nguyễn Thị T, Nguyễn Phương L, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Xuân T1, Võ Thành H, Nguyễn Văn P, Huỳnh Văn N, Nguyễn Chí T2 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo;

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Về tố tụng: Các bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo là hợp lệ. Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã kết án các bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”; bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Phương L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Văn P, Huỳnh Văn N, Nguyễn Chí T2, Nguyễn Ngọc S, Võ Thành H và Hoàng Xuân T1 phạm tội “Đánh bạc” và tuyên phạt các bị cáo với các mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới chưa được xem xét tại cấp sơ thẩm. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về mức hình phạt của các bị cáo.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm có nhiều điểm chưa chính xác khi áp dụng pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định như khi tuyên án đối với các bị cáo trong nhóm tội “Tổ chức đánh bạc”, Hội đồng xét xử sơ thẩm không tuyên các tình tiết định khung cụ thể đối với từng bị cáo là thiếu sót; tuyên tịch thu xe mô tô hiệu Sirius, màu sơn đen đỏ, biển số 72X3-0439, số khung: RLCS5C640AY296326, số máy: 5C64296329 của bị cáo Nguyễn Chí T2 là không đúng quy định của pháp luật vì chiếc xe này không liên quan đến hành vi phạm tội; khi áp dụng hình phạt bổ sung, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm áp dụng Khoản 3 Điều 321 để áp dụng đối với các bị cáo trong nhóm tội “Tổ chức đánh bạc” là không đúng dẫn đến việc mức hình phạt áp dụng thấp hơn mức khởi điểm 20.000.000 đồng là áp dụng sai lầm pháp luật.

Các bị cáo khác không tham gia tranh luận. Nói lời sau cùng, các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, tạo điều kiện cho các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của các bị cáo được làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể, hình thức và nội dung kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

2.1 Về tội danh: lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng của vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 19/02/2023, tại nhà Nguyễn Thị T (ở thôn Đ, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bắt quả tang Nguyễn Thị T, Nguyễn Đức D, Nguyễn Phương L sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để tổ chức cho Nguyễn Chí T2, Lê Thanh T12, Lê Thị N4, Huỳnh Văn N, Đỗ Thị Kim H6, Nguyễn Văn P, Hoàng Xuân T1, Nguyễn Ngọc S, Đỗ Thị Bích L4, Võ Thành H đánh bạc với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc được xác định là 24.320.000 đồng. Ngoài việc tổ chức cho người khác đánh bạc, Nguyễn Đức D còn trực tiếp tham gia đánh bạc với các con bạc nêu trên.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đức D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”; hành vi của bị cáo Nguyễn Phương L và Nguyễn Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”; hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P, Huỳnh Văn N, Nguyễn Chí T2, Đỗ Thị Kim H6, Nguyễn Ngọc S, Đỗ Thị Bích L4, Nguyễn Thanh H8, Lê Thanh T12, Lê Thị N4 và Hoàng Xuân T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Căn cứ vào phương thức tổ chức, số tiền dùng vào việc đánh bạc, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đức D về các tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 322, Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Phương L về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự và tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Văn P, Huỳnh Văn N, Nguyễn Chí T2, Đỗ Thị Kim H6, Nguyễn Ngọc S, Đỗ Thị Bích L4, Nguyễn Thanh H8, Lê Thanh T12, Lê Thị N4 và Hoàng Xuân T1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

2.2 Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo; Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo đều là công dân trưởng thành có đầy đủ khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình, nhưng vì tham lam, tư lợi, coi thường pháp luật và các chuẩn mực đạo đức xã hội, muốn kiếm tiền bằng trò đỏ đen nên đã dấn thân vào con đường phạm tội nên cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Đức D 25 (hai mươi lăm) tháng tù về 02 tội danh; Nguyễn Thị T 18 (mười tám) tháng tù; Nguyễn Phương L 12 (mười hai) tháng tù; Nguyễn Ngọc S 09 (chín) tháng tù; Hoàng Xuân T1 09 (chín) tháng tù; Huỳnh Văn N 12 (mười hai) tháng tù; Võ Thành H 09 (chín) tháng tù; Nguyễn Văn P 09 (chín) tháng tù; Nguyễn Chí T2 15 (mười lăm) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

Xét kháng cáo của các bị cáo về việc xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng các bị cáo “Tổ chức đánh bạc” là khởi nguồn của sự việc và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo bị truy tố tội “Đánh bạc”. Do đó, để đảm bảo tính răn đe và yêu cầu chính trị của địa phương, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên hình phạt đã tuyên của bản án sơ thẩm.

Đối với 6 bị cáo bị xét xử về tội “Đánh bạc” có kháng cáo thì bị cáo Huỳnh Văn N, Nguyễn Văn P có nhân thân xấu nên không có căn cứ cho hưởng án treo. Bị cáo Nguyễn Chí T2 sử dụng số tiền đánh bạc lớn nhất trong nhóm đánh bạc (14.400.000 đồng) nên để răn đe, giáo dục bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc cho hưởng án treo. Tuy nhiên, bị cáo có cung cấp tài liệu mới thể hiện bị cáo là thương binh nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ này để giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Các bị cáo còn lại gồm Nguyễn Ngọc S, Hoàng Xuân T1, Võ Thành H sử dụng số tiền đánh bạc ít (mỗi bị cáo sử dụng dưới 1.000.000 đồng đánh bạc), phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, tuyên phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Các vấn đề khác có liên quan:

  • - Một điều luật có thể chứa nhiều quy phạm pháp luật khác nhau để điều chỉnh một hành vi phạm tội đa dạng về hình thức nhưng cùng bản chất và được mô tả bằng các điểm khác nhau trong cùng một Khoản hay còn gọi là các tình tiết định khung. Do vậy, khi áp dụng pháp luật, việc xác định rõ tình tiết định khung đối với từng hành vi phạm tội không những làm sáng tỏ bản chất của vụ án mà còn làm cho người có hành vi phạm tội hiểu rõ hơn những qui định và chế tài của pháp luật đối với hành vi của mình. Trong phần quyết định, Hội đồng xét xử sơ thẩm chỉ áp dụng Khoản 1 Điều 322 khi tuyên án đối với các bị cáo trong nhóm tội “Tổ chức đánh bạc” là không sai tuy nhiên chưa đầy đủ và chưa phân biệt rõ đặc điểm, tính chất hành vi của từng đồng phạm bị truy tố cùng tội danh.
  • - Việc áp dụng hình phạt bổ sung để đảm bảo tính răn đe là phù hợp với định hướng chung của pháp luật nhưng Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự về tội “Đánh bạc” để tuyên hình phạt bổ sung đối với các bị cáo bị xét xử theo quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự về tội “Tổ chức đánh bạc”, dẫn đến mức hình phạt bổ sung đã tuyên đối với các bị cáo này dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định là áp dụng sai lầm pháp luật.
  • - Xe mô tô hiệu Sirius, màu sơn đen đỏ, biển số 72X3- 0439, số khung: RLCS5C640AY296326, số máy: 5C64296329 của bị cáo Nguyễn Chí T2 sử dụng để lưu thông, không phải tài sản dùng vào việc đánh bạc hay có liên quan đến hành vi đánh bạc nên Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm xác định đây là vật chứng và tịch thu, sung quỹ là không đúng qui định của pháp luật.

Từ những vấn đề phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy ngoài các nội dung kháng cáo được chấp nhận, cần sửa Bản án sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về Điều khoản áp dụng, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng ... theo hướng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với toàn bộ các bị cáo đã bị xét xử trong vụ án; trả lại chiếc xe mô tô là tài sản hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Chí T2... Những nội dung này có thể khắc phục được tại phiên tòa phúc thẩm và không ảnh hưởng đến bản chất của vụ án nên không đánh giá lỗi của Hội đồng xét xử sơ thẩm nhưng cũng cần rút kinh nghiệm nghiêm túc trong quá trình xét xử của mình.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết số 36/2035/UBTVQH14 ngày 30/12/2035 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”, các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Phương L phạm tội “ Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hoàng Xuân T1, Huỳnh Văn N, Võ Thành H, Nguyễn Văn P, Nguyễn Chí T2 phạm tội “Đánh bạc”;
  2. Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức D, Nguyễn Thị Thu Nguyễn Phương L6, Nguyễn Văn P, Huỳnh Văn N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về hình phạt đối với các bị cáo;

    Áp dụng điểm a, c Khoản 1 Điều 322; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đức D 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”; áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Đức D 10 (mười) tháng tù về tội “Đánh bạc”;

    Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải chấp hành hình phạt chung là 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2023 đến ngày 28/02/2023.

    Áp dụng điểm a, c Khoản 1 Điều 322; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2023 đến ngày 28/02/2023; tuyên phạt bị cáo Nguyễn Phương L6 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2023 đến ngày 28/02/2023;

    Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Huỳnh Văn N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2023 đến ngày 28/02/2023; tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn P 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/02/2023 đến ngày 02/3/2023.

  3. Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm c Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí T2, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về phần hình phạt;

    Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Chí T2 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2023 đến ngày 28/02/2023.

  4. Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hoàng Xuân T1, Võ Thành H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về biện pháp chấp hành hình phạt đối với các bị cáo;

    Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hoàng Xuân T1, Võ Thành H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm;

    Giao các bị cáo Nguyễn Ngọc S, Hoàng Xuân T1, Võ Thành H cho chính quyền địa phương là Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;

    Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự;

    Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, nếu phạm tội trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.

  5. Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm a, d Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng;

    Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đức D, Nguyễn Phương L6, Nguyễn Văn P, Huỳnh Văn N, Nguyễn Chí T2, Đỗ Thị Kim H6, Nguyễn Ngọc S, Đỗ Thị Bích L4, Võ Thành H, Lê Thành T13, Lê Thị N4, Hoàng Xuân T1.

    Về xử lý vật chứng: trả lại cho bị cáo Nguyễn Chí T2 01 xe mô tô hiệu Sirius, màu sơn đen đỏ, biển số 72X3- 0439, số khung: RLCS5C640AY296326, số máy: 5C64296329 (vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Đức theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức).

  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Các bị cáo Nguyễn Đức D, Nguyễn Thị T, Nguyễn Phương L6, Nguyễn Ngọc S, Hoàng Xuân T1, Võ Thành H, Nguyễn Văn P, Huỳnh Văn N, Nguyễn Chí T2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (16/08/2024).

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh BR - VT ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR - VT;
  • - PV 27 – Công an tỉnh BR - VT;
  • - TAND huyện Châu Đức;
  • - VKSND huyện Châu Đức;
  • - Công an huyện Châu Đức;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Châu Đức;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu, Tòa hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thái Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 93/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức D và đồng phạm phạm tội Tổ chức đánh bạc, Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger