Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 93/2024/HS-ST

Ngày 22-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hà Nam
  • Thẩm phán: Ông Trần Minh Long
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh
  • Ông Nguyễn Mạnh Long
  • Bà Hà Thị Minh Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm Vũ, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Phương - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H; sinh ngày 28-5-1995, tại Đà Nẵng; nơi cư trú: tổ A, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị N; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 28-10-2022. Có mặt.

2. Hồ Ngọc H1; sinh ngày 31-8-1991, tại Đà Nẵng; nơi cư trú: tổ B, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Ngọc B và bà Trần Thị Túy P1; tiền án: Ngày 10-8-2019 (Bản án số 65/2019/HS-ST), bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-4-2019; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12-8-2016 (Quyết định số 60/QĐ-TA), bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng và ngày 12-3-2018 (Quyết định số 19/QĐ-TA), bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng; bị tạm giữ ngày 28-12-2023. Có mặt.

3. Trương Thành T; sinh ngày 16-02-1996, tại Long An; nơi cư trú: tổ C, ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An; nơi tạm trú: 56 đường X, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Công M và bà Nguyễn Thị T1; tiền án:

  • * Ngày 22-4-2015 (Bản án số 24/2015/HS-ST), bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07-11-2014.
  • * Ngày 17-8-2019 (Bản án số 68/2019/HS-ST), bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24-4-2019.

+ Tiền sự: Không; bị bắt ngày 06-3-2024. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo:

  1. Ông Hà Đồng T2, là Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đ, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H. Có mặt;
  2. Bà Lê Thị M1, là Luật sư và cộng sự và Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đ, bào chữa cho bị cáo Hồ Ngọc H1. Có mặt;
  3. Bà Lê Thị Hồng T3, là Luật sư và cộng sự và Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đ, bào chữa cho bị cáo Trương Thành T. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn L; sinh năm 1986; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Minh S; sinh năm 1986; nơi cư trú: 54 đường V, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Trần Minh L1; sinh năm 1995; nơi cư trú: 54 đường V, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt;
  2. Ông Lò Khăm K; sinh năm 1992; nơi cư trú: lán trại tại E đường V, phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Khoảng 22 giờ ngày 30-8-2022, tại ngã ba đường V giao với đường P, thuộc phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Văn H, Hồ Ngọc H1 và Trương Thành T đang nhậu và hát thì loa karaoke (loại di động) bị hết pin nên H mang loa vào khu lán trại của công nhân xây dựng gần đó xin cắm điện để sạc pin nhưng các công nhân tại đây không cho và đuổi H đi. Do bực tức, nhóm H rủ nhau đi tìm hung khí để đập phá lán trại của công nhân, rồi cả nhóm đi đến khu đất trống bên cạnh bãi sửa chữa ô tô trên đường P, T lấy 01 cây gỗ, dài khoảng 170cm có dính nhiều đinh; H1 lấy 01 cây gỗ, dài 155cm; khi đi qua bãi sửa xe ô tô, thấy anh Nguyễn Văn L đang ngồi nhậu với anh Nguyễn Minh S thì H nói với anh L “Cậu đừng có ra, không phải chuyện của mình, ra mất công, mất lòng”. Sau đó, T và H1 cầm 02 cây gỗ cùng H đến đập vào lán trại của công nhân.

- Sau khi đập được vài cái thì nhóm H bỏ đi ra, đến lấy xe mô tô dựng ở cạnh lán trại thì thấy anh L đi bộ ra khu vực giữa đường P thì cả nhóm của H đi về phía anh L, T nói “Mi làm chi ra đây”; H dùng tay phải nắm vai anh L đẩy lùi lại; H1 cầm cây gỗ đánh 01 cái vào tay phải anh L; Thảo cầm cây gỗ đánh 01 cái vào lưng của anh L rồi ép anh L lùi về phía khu vực bàn nhậu. H đi đến giật lấy cây gỗ trên tay của H1 rồi đến đứng đối diện anh L dùng tay phải cầm cây gỗ đánh liên tục 02 cái trúng vào đỉnh đầu bên trái của anh L, làm anh L ngã ngửa xuống đất, bất tỉnh. Nhóm H dừng lại, vứt 02 cây gỗ rồi lấy xe mô tô bỏ đi; anh L được người dân đưa đến bệnh viện Đ cấp cứu.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ tại hiện trường: 01 cây gỗ trụ tròn, dài khoảng 170cm, đường kính khoảng 05cm, trên thân có đóng nhiều đinh; 01 cây gỗ dài khoảng 155cm, tiết diện 07cm x 03cm, bị tước gãy một đầu thành một đầu to một đầu nhỏ; 01 đôi dép nhựa màu trắng; 01 đĩa CD-R chứa video ghi lại một phần diễn biến vụ án.

- Anh Nguyễn Minh S giao nộp: 01 chiếc điện thoại bị vỡ làm nhiều mảnh, không con màn hình, mặt sau có chữ TA 1156; 01 Giấy biên nhận thu tiền số 0963.

- Thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H: 01 áo khoác dài tay, bằng vải dù, màu xám, trên áo có chữ “The Northface”; 01 quần đùi vải màu đen, xám trên quần có ghi chữ “Amiri”; 01 áo thun ngắn tay màu đen, xám trên áo có ghi chữ “Amiri".

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 246/TgT ngày 30-9-2022 của Trung tâm Pháp y, thuộc Sở Y tế thành phố Đ đối với Nguyễn Văn L xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là 36%, cụ thể:

  • Chấn thương sọ não, vỡ lún hai bản xương sọ chấm trái dài 32mm, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 22%;
  • Chấn thương tay phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 12%;
  • Chấn thương gãy đốt một ngón hai bàn tay trái và tổn thương vùng lưng, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 04%;
  • Các tổn thương phần mềm, cùng chẩm trái, vùng đầu (giữa trán – đỉnh, lệch trái, lệch phải), tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 03%;

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Văn L yêu cầu bồi thường 150.000.000 đồng; các bị cáo chưa bồi thường.

Cáo trạng số 108/CT-VKS-P2 ngày 03 tháng 7 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, truy tố Nguyễn Văn H và Hồ Ngọc H1 về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự; truy tố Trương Thành T về tội “Giết người” theo điểm n, p khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố; luận tội các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 năm đến 13 năm tù;
  • Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản Điều 52; khoản 3 Điều 57; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Ngọc H1 từ 10 năm đến 12 năm tù;
  • Căn cứ điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trương Thành T từ 12 năm đến 13 năm tù;
  • Chấp nhận yêu cầu bồi thường của bị hại.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội; nói lời sau cùng các bị cáo đều xin lỗi bị hại; ăn năn, hối hận vì đã thực hiện hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

Tại phiên tòa, các Luật sư bào chữa đều thống nhất với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo. Bào chữa cho các bị cáo thì đều đề nghị với Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo đều rất khó khăn; khả năng nhận thức pháp luật rất hạn chế; quá trình điều tra và tại phiên tòa đều khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải; đề nghị phân hóa hành vi cho 02 bị cáo H1 và T khi thực hiện hành vi phạm tội, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho người tham gia tố tụng. Những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên việc vắng mặt của những người nói trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Qua xem xét lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án; quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và luận cứ bào chữa cho các bị cáo của người bào chữa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 30-8-2022, tại khu vực ngã ba đường V giao P, thuộc phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng, dù không có mâu thuẫn gì nhưng Nguyễn Văn H, Hồ Ngọc H1 và Trương Thành T đã dùng 02 cây gỗ đánh vào tay, lưng và đầu của anh Nguyễn Văn L gây chấn thương sọ não, vỡ lún hai bản xương sọ chẩm trái, chấn thương tay phải, chấn thương gãy đốt một ngón hai bàn tay trái và các tổn thương phần mềm, cùng chẩm trái, vùng đầu (giữa trán – đỉnh, lệch trái, lệch phải) với tổng tỷ lệ thương tích là 36% ; khi anh L ngã bất tỉnh thì H, H1 và T bỏ đi. Bị hại L không bị tử vong là do được cấp cứu kịp thời.

Với hành vi đồng ý và sử dụng hung khí nguy hiểm để cùng tấn công, đánh người khác nên các bị cáo là đồng phạm về tội phạm đã gây ra theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo sử dụng 02 cây gỗ để đánh liên tiếp lên người, lên đầu anh L, các bị cáo nhận thức được hành vi của bản thân là nguy hiểm, thấy trước hậu quả chết người, nhưng vẫn ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra; mặt khác, các bị cáo không có mâu thuẫn gì với bị hại, nên hành vi của các bị cáo là coi thường pháp luật, sẵn sàng dùng vũ lực để uy hiếp người khác. Riêng đối với bị cáo Trương Thành T, ngày 17-8-2019 đã bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24-4-2019 và bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bị cáo chưa được xóa án tích, nên phạm tội lần này (ngày 30-8-2022) thuộc trường hợp định khung hình phạt về tình tiết “Tái phạm nguy hiểm”, quy định tại điểm p khoản 1 Điều Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, hành vi của các bị cáo H và H1 đã phạm vào tội "Giết người" với tình tiết định khung hình phạt “Có tính chất côn đồ”, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội "Giết người" với tình tiết định khung hình phạt “Có tính chất côn đồ” và “Tái phạm nguy hiểm”, quy định tại điểm n, p khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng bởi hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường những quy tắc trong cuộc sống, sự hung hãn và ưa thích dùng vũ lực để uy hiếp, xâm phạm tính mạng người khác. Hành vi của các bị cáo gây bức xúc và gây hoang mang trong nhân dân về an ninh trật tự và an toàn xã hội; ảnh hưởng đến mục tiêu và hình ảnh của thành phố Đà Nẵng về công tác phòng ngừa và đấu tranh đẩy lùi tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự.

[5] Xét về vai trò, tính chất và mức độ khi thực hiện tội phạm: Trong vụ án, cả 03 bị cáo đều chủ động tìm và sử dụng hung khí; bị cáo H khi thực hiện tội phạm người tích cực nhất và gây nên các thương tích trọng yếu đối với bị hại, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất. Đối với H1 và T cũng dùng hung khí tấn công bị hại và đều bỏ đi khi đã đánh bị hại bất tỉnh.

[6] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo, nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo H1 ngày 10-8-2019, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-4-2019; chưa được xóa án tích, nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự và bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Cả 02 bị cáo H1 và T có nhân thân xấu; sau khi phạm tội đều bỏ trốn nên Cơ quan điều tra phải truy nã; bị cáo H1 ra đầu thú, còn bị cáo T bị bắt theo quyết định truy nã; bị cáo H chưa có tiền án, tiền sự.

[7] Bị hại Nguyễn Văn L không chết nên các bị cáo được áp dụng Điều 57 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt.

[8] Từ những phân tích trên, xét thấy các bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với tất cả các bị cáo, theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Đối với 01 Điện thoại bị vỡ làm nhiều mảnh, không còn màn hình, mặt sau có chữ TA 1156; 01 Giấy biên nhận thu tiền số 0963, là tài sản của anh Nguyễn Minh S nên cần tuyên trả lại cho anh S;

Đối với 01 cây gỗ trụ tròn, dài khoảng 170cm, đường kính khoảng 05cm, trên thân có đóng nhiều đinh; 01 cây gỗ dài khoảng 155cm, tiết diện 07cm x 03cm, bị tước gãy một đầu thành một đầu to một đầu nhỏ, là công cụ phạm tội hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy;

Đối với 01 đôi dép nhựa màu trắng thu giữ tại hiện trường vụ án, hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy;

Đối với 01 đĩa CD-R chứa file video ghi lại một phần diễn biến vụ án, là vật chứng của vụ án cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án;

Đối với 01 áo khoác dài tay, bằng vải dù, màu xám, trên áo có chữ “The Northface”; 01 quần đùi vải màu đen, xám trên quần có ghi chữ “Amiri”; 01 áo thun ngắn tay màu đen, xám trên áo có ghi chữ “Amiri” của bị cáo H mặc lúc gây án, là tài sản của các bị cáo nên cần tuyên trả lại cho các bị cáo.

[10] Về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường tổng số tiền 150.000.000 đồng; các bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại theo yêu cầu trên. Xét mức độ lỗi và hậu quả từng bị cáo gây ra trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Hồ Ngọc H1 và Trương Thành T liên đới bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn L 150.000.000 đồng; trong đó, bị cáo H phải bồi thường 75.000.000 đồng, bị cáo H1 và T mỗi bị cáo phải bồi thường 37.500.000 đồng.

[11] Về án phí: Án phí hình sự và dân sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
    • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”;
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 13 (mười ba) năm tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-10-2022.
  2. Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 57; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
    • Tuyên bố bị cáo Hồ Ngọc H1 phạm tội “Giết người”;
    • Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc H1 12 (mười hai) năm tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-12-2023.
  3. Căn cứ vào điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
    • Tuyên bố bị cáo Trương Thành T phạm tội “Giết người”;
    • Xử phạt bị cáo Trương Thành T 13 (mười ba) năm tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06-3-2024.
  4. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 cây gỗ trụ tròn, dài khoảng 170cm, đường kính khoảng 05cm, trên thân có đóng nhiều đinh; 01 cây gỗ dài khoảng 155cm, tiết diện 07cm x 03cm, bị tước gãy một đầu thành một đầu to một đầu nhỏ; 01 đôi dép nhựa màu trắng.
    • Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 áo khoác dài tay, bằng vải dù, màu xám, trên áo có chữ “The Northface”; 01 quần đùi vải màu đen, xám trên quần có ghi chữ “Amiri”; 01 áo thun ngắn tay màu đen, xám trên áo có ghi chữ “Amiri”.
    • Trả lại cho Anh Nguyễn Minh S 01 chiếc điện thoại bị vỡ làm nhiều mảnh, không con màn hình, mặt sau có chữ TA 1156; 01 Giấy biên nhận thu tiền số 0963.
    • Vật chứng trên, hiện Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ, theo Quyết định cuyển vật chứng số 28/VKS-P2 ngày 26-01-2024.
    • Tuyên lưu giữ theo hồ sơ vụ án đĩa CD-R chứa file video ghi lại một phần diễn biến vụ án. (Hiện đang lưu giữ theo hồ sơ vụ án).
  5. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 587 và 590 của Bộ luật Dân sự,
    • Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Hồ Ngọc H1 và Trương Thành T liên đới bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn L 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng; trong đó, bị cáo H phải bồi thường 75.000.000 đồng, bị cáo H1 và T mỗi bị cáo phải bồi thường 37.500.000 đồng.
    • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  6. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
    • Các bị cáo Nguyễn Văn H, Hồ Ngọc H1 và Trương Thành T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
    • Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 3.750.000 (ba triệu, bảy trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • Các bị cáo Hồ Ngọc H1 và Trương Thành T mỗi bị cáo phải chịu 1.875.000 (một triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an TPĐN;
  • - Phòng CS. THAHS và HTTP;
  • - Trại tạm giam Công an TPĐN;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Ngô Hà Nam

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự (giết người)

  • Số bản án: 93/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 22 giờ ngày 30-8-2022, tại khu vực ngã ba đường V giao P, thuộc phường P, quận S, thành phố Đà Nẵng, dù không có mâu thuẫn gì nhưng Nguyễn Văn H, Hồ Ngọc H1 và Trương Thành T đã dùng 02 cây gỗ đánh vào tay, lưng và đầu của anh Nguyễn Văn L gây chấn thương sọ não, vỡ lún hai bản xương sọ chẩm trái, chấn thương tay phải, chấn thương gãy đốt một ngón hai bàn tay trái và các tổn thương phần mềm, cùng chẩm trái, vùng đầu (giữa trán – đỉnh, lệch trái, lệch phải) với tổng tỷ lệ thương tích là 36% ; khi anh L ngã bất tỉnh thì H, H1 và T bỏ đi.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger