|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày 22-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Bá Hùng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triệu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số: 62/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Quý K; sinh ngày 11 tháng 6 năm 2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 1 N, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: A P, Phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Q (Chết) và bà Hồ Thị Diễm H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Phương Kỳ A; sinh ngày 29 tháng 12 năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 1 N, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: A P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Q (Chết) và bà Hồ Thị Diễm H; bị cáo chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Như Q1; sinh ngày 18 tháng 10 năm 2001 tại tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: 41/46 Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hùng A1 và bà Nguyễn Thị O; bị cáo chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Ông Nguyễn Đức Thắng Ý – Luật sư Công ty L1, bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quý K và bị cáo Nguyễn Phương Kỳ A. (Có mặt)
- Bị hại: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm: 2000. (Có mặt)
Địa chỉ: 3 ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Như Q1 và Nguyễn Thành L có quan hệ tình cảm với nhau đến khoảng đầu năm 2023 thì cả hai chia tay và nảy sinh mâu thuẫn, L và Q1 có gặp mặt để giải quyết mâu thuẫn với nhau thì Q1 bị L đánh. Đến khoảng chiều ngày 23/8/2023, Q1 và Nguyễn Phương Kỳ A đang ngồi uống nước ở Quận A thì L nhắn tin qua Messenger chửi mắng K1. Lúc này Q1 và Kỳ A có hẹn L ra quán cà phê để nói chuyện rõ mâu thuẫn thì L đưa ra địa chỉ nên Q1 và Kỳ A bàn với nhau nếu có đi gặp L thì phải có một người nam đi cùng để bảo vệ và Kỳ A gọi em ruột là Nguyễn Quý K để đi cùng thì K đồng ý. Sau đó, Q1 điều khiển xe Honda Wave biển số 88G1-516.04 chở Kỳ A về nhà ở Phường A, T thì gặp K đang chờ. Q1 gặp và nói chuyện với K để nhờ đi giúp hỗ trợ bảo vệ cho Q1 và Kỳ A, Q1 có nói với K nếu bên kia làm quá thì đánh cho sợ, đánh dằn mặt thì K nói K không đánh mà chém luôn rồi K vào trong nhà lấy hung khí bỏ trong bao đàn ghi-ta có một mã tấu cán bằng kim loại dài khoảng 80cm và hai cây kiếm Nhật dài khoảng 80cm, một được quấn vải đen, một cán gỗ để giữa xe gắn máy Wave RSX màu đỏ đen biển số 54M5-7051 do Kỳ A điều khiển chở K ngồi sau, Q1 đi xe gắn máy một mình dẫn đường đến nhà L. Sau đó, cả nhóm đến một căn nhà trong hẽm ở ấp M, xã T, huyện H và K kểu K đứng chờ phía trước hẽm, còn Kỳ A qua xe Q1 đi vào trong, K để bao đàn ghi-ta trong đựng 01 cây kiếm nhật và con dao tự chế phía trước xe đứng chờ. Kỳ A và Q1 vào trong hẻm nhà L thì L từ trong nhà đi ra cầm cây chổi hướng về Kỳ A và nói “ tại sao chửi tao” Kỳ A sợ chạy về hướng K thì L đi theo sau. Lúc này K mới liền rút một cây kiếm nhật cán quấn vải ra xông vào trong hỏi L tại sao đánh con gái, Kỳ A chạy lại chỗ bao đàn rút một con dao tự chế ra để thủ sẵn và hô “ chém nó, chém nó” thì K chém L từ trên xuống dưới, L dùng cây gỗ đỡ, sau đó L quăng cây gỗ đi và chụp lấy lưỡi kiếm của K mới dẫn đến giằng co và L té xuống đất nên K đè lưỡi kiếm liết tới trước trúng vào gò má trái của L, K rút kiếm ra và chém vào hông bên phải của L thì thấy gia đình L ra can ngăn nên K bỏ chạy thì L chạy vào phía trong dùng tay không đánh Q1. Sau đó Q1, K và Kỳ A bỏ chạy và L dùng nhiều vật liên tục ném về phía cả nhóm đang bỏ chạy tẩu thoát. Sau đó, K mang số hung khí còn lại đến nhà Huỳnh Anh T tại địa chỉ 8 N, phường A, T, TP . nhờ cất giữ hộ cà bao đàn ghi ta bên trong có chứa dao, kiếm trên.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 5608/KLTTCT- C09B ngày 28/8/2023 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ C1 tại TP. Hồ Chí Minh: Xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Thành L tại thời điểm giám định là 15%. Thương tích trên người Nguyễn Thành L không gây nguy hiểm đến tính mạng. Thương tích trên người Nguyễn Thành L đang trong quá trình theo dõi và điều trị, hiện chưa ổn định. Đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện H đưa Nguyễn Thành L giám định bổ sung sau khi đã điều trị ổn định.
Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số: 7226/KLTTCT – C09B ngày 07/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ C1 tại TP. Hồ Chí Minh kết luận:
Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích như sau:
- - Sẹo bờ mép gọn, kích thước trung bình: 06%;
- - Sẹo vùng hông phải bờ mép gọn, kích thước trung bình: 02%
- Bàn tay phải:
- Sẹo vùng ô mô cái bờ mép gọn, kích thước nhỏ: 01%
- Sẹo đốt 1 ngón III bờ mép gọn, kích thước nhỏ: 01%;
- Sẹo đốt 3 ngón III bờ mép gọn, kích thước nhỏ: 01%;
- Sẹo đốt 3 ngón IV bờ mép gọn, kích thước nhỏ: 01%;
- Bàn tay trái:
- Sẹo đốt 1 ngón III bờ mép gọn, kích thước nhỏ: 01%;
- Sẹo đốt 3 ngón III bờ mép gọn, kích thước nhỏ: 01%;
- Sẹo gốc ngón IV bờ mép gọn, kích thước nhỏ: 01%;
- Sẹo ngón II bờ mép gọn, kích thước nhỏ: 02%;
- + Gãy rạn đốt 2 ngón II : 01%;
- + Tổn thương nhánh thần kinh sọ số VII: 07%;
Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương thể của Nguyễn Thành L tại thời điểm giám định là 23%.
Kết luận khác: Các thương tích trên Cơ thể Nguyễn Thành L có đặc điểm phù hợp do tác động của vật sắc gây ra; 03 mẫu vật gửi giám định có thể gây được các thương tích trên cơ thể Nguyễn Thành L.
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện H, các bị cáo Nguyễn Quý K, Nguyễn Phương Kỳ A và Nguyễn Như Q1 đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 bao đựng đàn ghi ta màu đen bên trong có 01 cây kiếm dài khoảng 1,2 mét có vỏ bao màu đen.
- 01 cây dao màu đen, 01 cây mã tấu dài khoảng 70cm.
- 01 quần đùi thun màu đen có chữ “ Michach JORDAN”, 01 áo thun ngắn tay màu trắng xanh có chữ MLB.
Tại Bản cáo trạng số: 62/CT-VKSH.HM ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quý K, Nguyễn Phương Kỳ A, Nguyễn Như Q1 ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quý K từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù,
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phương Kỳ A và bị cáo Nguyễn Như Q1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 05 năm.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.
- Về phần dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng, về số tiền 50.000.000 đồng là tiền phẫu thuật thẩm mỹ không có tài liệu chứng cứ các bị cáo không đồng ý bồi thường nên đề nghị không chấp nhận.
- Bị hại Nguyễn Thành L thừa nhận có việc nhắn tin đe doạ, trấn áp về tinh thần đối với bị cáo Nguyễn Như Q1 sau khi cả hai kết thúc quan hệ tình cảm. Bị hại nộp thêm các tài liệu thu tiền viện phí và đồng ý với việc các bị cáo đã bồi thường số tiền 30.000.000 đồng chi phí điều trị, mức thu nhập bị mất hoặc giảm sút; chi phí cho người chăm sóc và không có yêu cầu bồi thường thêm về mức thu nhập bị mất hoặc giảm sút; chi phí cho người chăm sóc, tổn thất tinh thần...
Bị hại chỉ yêu cầu bồi thường thêm số tiền 50.000.000 đồng là tiền bị hại sẽ tiến hành phẫu thuật thẩm mỹ tại Hệ thống Viện thẩm mỹ P gồm thực hiện Công nghệ cao Lasik cà và stemcell phục hồi, sắc tố kháng viêm mụn, sẹo dài viền cằm với giá 60.000.000 đồng, bị hại đã tạm ứng 5.000.000 đồng nên yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm 50.000.000 đồng để tiến hành thực hiện thẩm mĩ.
- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày bổ sung và không có ý kiến tranh luận với nội dung truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phương Kỳ A và bị cáo Nguyễn Quý K xác định nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp. Tuy nhiên, cần xem xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xem xét cho bị cáo Nguyễn Phương Kỳ A và bị cáo Nguyễn Quý K được hưởng mức hình phạt thấp nhất và không cần thiết cách ly bị cáo Nguyễn Phương Kỳ A ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo Nguyễn Quý K được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn từ từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
- Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng là tiền riêng của các bị cáo, về số tiền 50.000.000 đồng là tiền phẫu thuật thẩm mỹ hiện chưa thực hiện và không có tài liệu chứng cứ nên các bị cáo không đồng ý bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua phần hỏi và tranh tụng công khai, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở chứng minh:
Do có mâu thuẫn và bị đe doạ trong chuyện tình cảm với bị hại Nguyễn Thành L nên bị cáo Nguyễn Như Q1 có kể cho bị cáo Nguyễn Phương Kỳ A biết, sau đó L, Q1 và Kỳ A xảy ra mâu thuẫn;
Ngày 23/8/2023, Nguyễn Như Q1 rủ Nguyễn Phương Kỳ A hẹn gặp L ở quán cà phê để nói chuyện nhưng không gặp được do đó quay về rủ thêm bị cáo Nguyễn Quý K đi theo bảo vệ cả hai đến nhà L ở địa chỉ C tổ H, ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Khi đến nhà bị hại L, bị cáo K ở bên ngoài đợi và nhìn thấy L dùng cây chổi rượt đánh Kỳ A là chị ruột của K nên bị cáo K đã dùng dao, kiếm tự chế là hung khí nguy hiểm căn ngăn, chém bị hại L gây thương tích với tỷ lệ thương tật 23%.
[2.2] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Giữa các bị cáo và bị hại có mâu thuẫn bắt nguồn từ bị hại nhưng việc bị cáo K dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 23% đã thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Bản cáo trạng số: 62/CT-VKSH.HM ngày 01 tháng 02 năm 2024 truy tố các bị cáo Nguyễn Quý K, Nguyễn Phương Kỳ A, Nguyễn Như Q1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 134: Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
...
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính bộc phát, không có sự cấu kết chặt chẽ khi thực hiện hành vi phạm tội, thuộc dạng đồng phạm giản đơn. Bị cáo Q1 bị bị hại hăm doạ, sau đó bị cáo Kỳ A vì bênh vực bị cáo Q1 nên mấu thuẫn với L, khi đi đến nhà L có dắt theo K để bảo vệ, việc K tự chuẩn bị hung khí và bộc phát gây thương tích cho bị hại là ngoài dự tính của bị cáo Q1 và bị cáo Kỳ A. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng bị cáo. Bị cáo K cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo:
[3.1]. Bị cáo Nguyễn Quý K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo có chuẩn bị hung khí và thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại một cách tích cực; Mặc dù vậy xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; tại Cơ quan điều tra và quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3.2]. Bị cáo Nguyễn Phương Kỳ A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng khi bị cáo K gây thương tích cho bị hại lại có hành vi cổ vũ; Mặc dù vậy xét bị cáo Kỳ A có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; tại Cơ quan điều tra và quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3.3]. Bị cáo Nguyễn Như Q1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; tại Cơ quan điều tra và quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại và bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét thấy bị cáo Kỳ A và bị cáo Như Q1 có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bị cáo hiện có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có xác nhận hạnh kiểm tốt của chính quyền địa phương trong việc chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú nên Hội đồng xét xử Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã đề nghị cho các bị cáo Kỳ A và Như Q1 được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về xử lý vật chứng:
- 01 USB lưu trữ 01 đoạn video là chứng cứ liên quan đến việc chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, nên đưa lưu vào hồ sơ vụ án.
- 01 bao đựng đàn ghi ta màu đen bên trong có 01 cây kiếm dài khoảng 1,2 mét có vỏ bao màu đen; 01 cây dao màu đen, 01 cây mã tấu dài khoảng 70cm; 01 quần đùi thun màu đen có chữ “ Michach JORDAN”, 01 áo thun ngắn tay màu trắng xanh có chữ MLB không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường 80.000.000 đồng, bị hại đồng ý với việc các bị cáo đã bồi thường số tiền 30.000.000 đồng chi phí điều trị, mức thu nhập bị mất hoặc giảm sút; chi phí cho người chăm sóc và không có yêu cầu bồi thường thêm về mức thu nhập bị mất hoặc giảm sút; chi phí cho người chăm sóc, tổn thất tinh thần; Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề này.
Đối với yêu cầu bồi thường thêm số tiền là 50.000.000 đồng là tiền sẽ tiến hành phẫu thuật thẩm mĩ tại Hệ thống Viện thẩm mĩ Phương Đ gồm thực hiện Công nghệ cao Lasik cà và stemcell phục hồi, sắc tố kháng viêm mụn, sẹo dài viền cằm bị hại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh được yêu cầu bồi thường của mình là có căn cứ và hợp pháp ngoài phiếu thu (không có con dấu, mã số thuế hoặc các thông tin phù hợp); Sau khi được giải thích việc phải chịu án phí nếu yêu cầu bồi thường thiệt hại đó không được Tòa án chấp nhận, ông L vẫn không rút yêu cầu do đó Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông L. Nếu ông L vẫn phải tiếp tục điều trị thì các chi phí phát sinh sau thời điểm Tòa án giải quyết sẽ được giải quyết trong vụ án khác nếu có yêu cầu của người bị thiệt hại.
[6] Về án phí:
- Các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị hại Nguyễn Thành L có yêu cầu bồi thường thiệt hại về những khoản không phù hợp với pháp luật thì Tòa án phải giải thích việc phải chịu án phí nếu yêu cầu bồi thường thiệt hại đó không được Tòa án chấp nhận. Nhưng bị hại L vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết nên phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận;
Theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- [1] Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 50, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quý K 02 (Hai) năm 09(chín)tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 29/8/2023.
- [2] Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 50, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương Kỳ A 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 22/4/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Phương Kỳ A cho Ủy ban nhân dân phường A2, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Phương Kỳ A cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại điều 87, 91, 92, 93 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- [3] Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Như Q1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 22/4/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Như Q1 cho Ủy ban nhân dân phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Như Q1 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại điều 87, 91, 92, 93 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
(Các bị cáo Nguyễn Phương Kỳ A và Nguyễn Như Q1 đã được giải thích về chế định án treo).
- [3]. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB lưu trữ.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao đựng đàn ghi ta màu đen bên trong có 01 cây kiếm dài khoảng 1,2 mét có vỏ bao màu đen; 01 cây dao màu đen, 01 cây mã tấu dài khoảng 70cm; 01 quần đùi thun màu đen có chữ “ Michach JORDAN”, 01 áo thun ngắn tay màu trắng xanh có chữ MLB.
Vật chứng của vụ án hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01 tháng 02 năm 2024.
- [4]. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Ghi nhận các bị cáo Nguyễn Quý K, Nguyễn Phương Kỳ A, Nguyễn Như Q1 tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thành L số tiền 30.000.000 đồng, bị hại đã nhận 20.000.000 đồng, số tiền 10.000.000 đồng còn lại được cấn trừ vào số tiền bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả đã nộp theo Biên lai thu tiền số: 0001031 Ký hiệu BLTT/23P ngày 27/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Thành L được liên hệ chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền để nhận số tiền trên.
- [5] Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí:
Buộc các bị cáo Nguyễn Quý K, Nguyễn Phương Kỳ A, Nguyễn Như Q1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Buộc bị hại Nguyễn Thành L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 2.500.000 đồng. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- [6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- [7] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Hồng Hải |
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quý K 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích". Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương Kỳ A 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
