Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MỸ

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HS-ST

Ngày 06 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đạt và ông Đỗ Xuân Chúc.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2024/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, đối với:

1. Các Bị cáo:

1.1. Đặng Văn N, sinh ngày 16/4/1989; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 8/12; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam và Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; con ông Đặng Văn N1, sinh năm 1967 và bà Hà Thị D, sinh năm: 1966; vợ: Lê Thị V, sinh năm 1990 ; có 01 con, sinh năm 2019 ; Tiền án, tiền sự : không ; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Có mặt

1.2. Nguyễn Văn M, sinh ngày 16/10/1996; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1997; có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2016; Tiền sự: Ngày 24/4/2024 Công an xã V, huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Tiền án : Không ; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Có mặt

2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

2.1. Bà Vũ Thị D1, sinh năm 1969; vắng mặt

2.2. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1990; vắng mặt

Đều có địa chỉ: thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên

2.3. Anh Nguyễn Quang H1, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt

3. Những người làm chứng:

3.1. Anh Phạm Văn B, sinh năm 1996; địa chỉ: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt

3.2. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1997; địa chỉ: thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt)

4. Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Văn D2, sinh năm 1963; Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 07/5/2024, tại thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an xã H, huyện Y phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn M và Đặng Văn N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: tại tay trái Đặng Văn N 01 túi nilon màu trắng, miệng túi viền màu xanh, kích thước (2x1,5)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng niêm phong ký hiệu M1; tại túi quần phía trước bên phải Nhật 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu tím trắng, bên trong có 02 sim, tại túi quần sau bên phải Nhật số tiền 615.000 đồng; tại túi quần phía trước bên trái Nguyễn Văn M 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, bên trong có sim và 01 xe mô tô hiệu Honda Airblede màu đen, biển số 89F1 – 501.07.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Văn N và Nguyễn Văn M. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết quả xét nghiệm Nguyễn Văn M và Đặng Văn N đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine và A.

Tại bản kết luận giám định số 352/KL-KTHS(MT) ngày 10/5/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu M1, có khối lượng là: 0,178g (không phẩy một bẩy tám gam) là ma tuý, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra: Đặng Văn N và Nguyễn Văn M khai nhận: N và M là người sử dụng ma túy tổng hợp, khoảng 10 giờ ngày 05/5/2024, Đặng Văn N sử dụng số điện thoại 0961.663.xxx gọi đến số điện thoại 0961.616.xxx của Nguyễn Văn M hỏi vay 300.000 đồng thì M đồng ý. N điều khiển xe mô biển số 30F7-9156, xe Nhật mượn của anh Nguyễn Quang H1 bạn của N đi đến Gara ô tô B, ở thôn T, xã Y gặp M để lấy tiền, sau đó đi đến khu vực G thuộc địa phận xã H, huyện K mua 01 túi nilon màu trắng có miệng túi viền màu xanh, kích thước (2x1,5)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá của Phạm Văn B với số tiền 300.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, N và M gặp nhau tại ngã ba thôn T, xã Y, huyện Y, N đưa cho M túi ma túy vừa mua, M cầm túi ma túy về nhà cất giấu. Đến khoảng 12 giờ ngày 07/5/2024, N gọi điện cho M hỏi “còn ma túy không”, M nói “vẫn còn” nên N bảo M đến đón N để cả hai đi tìm chỗ để sử dụng thì M đồng ý. Sau đó M điều khiển xe mô tô biển số 89F1-501.07 (mượn của anh Vũ Văn K1, sinh năm 1990 trú tại thôn M, xã Y, huyện Y) đến đầu ngõ N, tại đây N bảo M đưa túi ma túy cho N cầm và N điều khiển xe mô tô chở M đi tìm chỗ sử dụng. Khi N đèo M đi đến địa phận thôn Đ, xã H, huyện Y thì bị Công an xã H kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng liên quan.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét chỗ ở của Phạm Văn B và rà soát camera ở khu vực G, nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan. Quá trình điều tra, Phạm Văn B khai không bán ma túy cho N, đồng thời từ chối tham gia đối chất với N. Do không có chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để xử lý đối với B.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblede màu đen, biển số 89F1 – 501.07. Kết quả điều tra xác định là xe của bà Vũ Thị D1, sinh năm 1969 ở thôn M, xã Y, huyện Y là mẹ của anh Vũ Văn K1. Bà D1 cho anh K1 chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại, bà D1 và anh K1 không biết việc M mượn chiếc xe mô tô trên để đi sử dụng ma túy. Kết quả tra cứu xe không có trong dữ liệu xe vật chứng. Ngày 07/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe trên cho bà Vũ Thị D1, bà D1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với anh Nguyễn Quang H1 cho N mượn xe mô tô biển số 30F7-9156 ngày 05/5/2024 nhưng không biết N sử dụng xe để đi mua ma túy như N khai nên không xử lý.

Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ghi số 352/KL-KTHS(MT), bên trong có: 0,172gam ma túy, loại Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu M1; 01 túi nilon màu trắng, viền miệng màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu tím trắng bên trong có 02 sim và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh bên trong có 01 sim liên quan đến hành vi phạm tội. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Y; Số tiền 615.000 đồng là của N không liên quan đến hành vi phạm tội, được gửi vào tài khoản tạm giữ của Công an huyện Y tại Kho bạc Nhà nước huyện Y.

Quá trình điều tra Đặng Văn N và Nguyễn Văn M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 92/CT-VKS-YM ngày 16/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố các bị cáo Đặng Văn N và Nguyễn Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo N và M thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồi xét xử, tuyên bố: Các bị cáo Đặng Văn N và Nguyễn Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn N và Nguyễn Văn M mỗi bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn có quan điểm về vật chứng và án phí.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì tại lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật, để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai của họ do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, HĐXX căn cứ vào các Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục phiên tòa.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng, biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, kết luận giám định của Phòng K2 Công an tỉnh H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 07/5/2024, tại thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn M và Đặng Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,178 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị Công an xã H, huyện Y phát hiện bắt quả tang. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi và khối lượng ma túy các bị cáo tàng trữ như nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố các bị cáo về hành vi và tội danh như đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đặng Văn N và Nguyễn Văn M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đặng Văn N và Nguyễn Văn M đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình các bị cáo có đơn xin giảm nhẹ được chính quyền địa phương xác nhận nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy: Vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, thống nhất, bị cáo N giữ vai trò chính, bị cáo Minh giữ vai trò giúp sức, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo M đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi liên quan nhưng không lấy đó làm bài học và tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường của pháp luật do đó cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều nghiện ma túy, nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp:

Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ghi số 352/KL-KTHS(MT), bên trong có: 0,172gam ma túy, loại Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu M1; 01 túi nilon màu trắng, viền miệng màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là công cụ, phương tiện phạm tội, vật nhà nước cấm lưu hành và hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy;

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu tím trắng bên trong có 02 sim và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh bên trong có 01 sim liên quan đến hành phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp Ngân sách nhà nước, cho tiêu hủy sim lắp trong hai điện thoại.

Đối với số tiền 615.000 đồng đã thu giữ của N không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblede màu đen, biển số 89F1 – 501.07. Kết quả điều tra xác định là xe của bà Vũ Thị D1, sinh năm 1969 ở thôn M, xã Y, huyện Y là mẹ của anh Vũ Văn K1. Bà D1 cho anh K1 chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại, bà D1 và anh K1 không biết việc M mượn chiếc xe mô tô trên để đi sử dụng ma túy. Kết quả tra cứu xe không có trong dữ liệu xe vật chứng. Ngày 07/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe trên cho bà Vũ Thị D1, bà D1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Quang H1 cho N mượn xe mô tô biển số 30F7-9156 ngày 05/5/2024 nhưng không biết N sử dụng xe để đi mua ma túy như N khai nên không xử lý.

Đối với việc bị cáo N khai mua ma túy của Phạm Văn B, quá trình điều tra B không thừa nhận bán ma túy cho N và từ chối đối chất, qua rà soát cameda khu vực G tại thời điểm N khai là có việc mua bán ma túy diễn ra, cơ quan điều tra không thu giữ được đồ vật, tài liệu, hình ảnh gì liên quan nên không có đủ căn cứ để xử lý đối với B.

[7] Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

2. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn N và Nguyễn Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

3. Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn N và Nguyễn Văn M mỗi bị cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.

4. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy phong bì ghi số 352/KL-KTHS(MT), bên trong có: 0,172gam ma túy, loại Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu M1; 01 túi nilon màu trắng, viền miệng màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định;

Tịch thu phát mại nộp Ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu tím trắng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh. Cho tiêu hủy sim lắp trong hai điện thoại.

Trả lại cho bị cáo Đặng Văn N số tiền 615.000 đồng (Sáu trăm mười năm nghìn đồng).

(Đặc điểm, tình trạng chi tiết vật chứng theo biên bản giao vật chứng ngày 06/9/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mỹ và Công an huyện Y, số tiền có trong tài khoản 3949.0.1051466.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mỹ).

5. Về án phí: Các Bị cáo Đặng Văn N và Nguyễn Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

6. Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Nhiên

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - CA, VKS, THA huyện Yên Mỹ;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 93/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn N và Nguyễn Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger