|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE Bản án số: 93/2024/HS-ST Ngày: 27-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hoàng Phúc.
- Bà Âu Thị Kiều Sương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kinh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Cao Duyệt Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/TLST- HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: số A, Cầu H, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre;
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Con ông Nguyễn Văn Cu Ú (chết) và bà Ngô Thị Ngọc N; Vợ, con: không.
Nhân thân của bị cáo:
- + Ngày 16/9/2004, bị Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong ngày 01/6/2006).
- + Ngày 10/8/2007, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố B) xử phạt 02 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản” (Bản án số 67/2007/HSST). Ngày 28/9/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt 05 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, tổng hợp với Bản án 67/2007/HSST ngày 10/8/2007 buộc Tín chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 02 năm 05 tháng tù (Bản án số 80/2007/HSST). Ngày 18/01/2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố B) xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tổng hợp hình phạt với Bản án số 80/2007/HSST ngày 28/9/2007 buộc Tín chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm 11 tháng tù (chấp hành xong bản án ngày 03/12/2011).
- + Ngày 30/10/2019, bị Tòa án nhân dân thành thành phố Bến Tre xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 93/2019/HSST). Ngày 18/5/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 07/2020/HSST), tổng hợp hình phạt với Bản án số 93/2019/HSST ngày 30/10/2019 buộc Tín chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 01 năm 06 tháng tù (chấp hành xong bản án ngày 17/6/2021);
- + Ngày 14/02/2023, bị Toà án nhân dân thành phố Bến Tre xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong vào ngày 18/01/2024.
- Tiền án: 02
- + Ngày 18/5/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 17/06/2021 nhưng chưa thi hành xong phần dân sự của bản án.
- + Ngày 14/02/2023, bị Toà án nhân dân thành phố Bến Tre xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong vào ngày 18/01/2024.
- Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
Ông Tống Văn B, sinh năm 1961; (Vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Ngô Thị Ngọc N, sinh năm 1961; (Vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mặc dù bản thân có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nhưng vào khoảng 9 giờ ngày 13/04/2024, bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển số 71B1-400.54 lưu thông trên đường huyện lộ 173 theo hướng từ cầu P về huyện C để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi ngang qua nhà ông Tống Văn B, bị cáo T phát hiện có 01 cuộn lưới B40 để bên hông nhà, không người trông coi nên dừng xe trước cửa rồi đến lấy cuộn lưới B40 ra để lên xe tẩu thoát. Trên đường T chở đi tiêu thụ thì bị Lực lượng Công an xã T phát hiện. Vật chứng tạm giữ:
- - Xe mô tô biển số 71B1-400.54, nhãn hiệu LONCIN, màu nâu;
- - 01 cuộn lưới B40 qua kiểm tra trọng lượng 58 kg.
Tại bản kết luận định giá số 1104/KL-HĐĐG ngày 28/06/2024 của Hội đồng định giá huyện C kết luận 01 cuộn lưới B40 cũ, đã qua sử dụng trọng lượng 58 kg có giá trị là 406.000 đồng;
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho ông Tống Văn B 01 cuộn lưới B40 trọng lượng 58 kg bị mất. Ông B đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Cáo trạng số 92/CT-VKSCT ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo T và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho ông Tống Văn B 01 cuộn lưới B40 trọng lượng 58 kg và trả lại cho bà Ngô Thị Ngọc N một xe mô tô biển số 7181-400.54, nhãn hiệu LONCIN, màu nâu.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời sau cùng bị cáo đã biết sai và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo cơ hội đ ể sửa sai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử và đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra nên tiếp tục xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị hại về vị trí, thời gian và đặc điểm tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Mặc dù có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13/04/2024, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 cuộn lưới B40 trọng lượng 58 kg của bị hại Tống Văn B có giá trị 406.000 đồng.
[3] Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vì phạm pháp luật, bị xã hội lên án nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tỉnh hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, tạo sự bất bình, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
[4] Lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý, trông coi tài sản, bị cáo đã tiếp cận, thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại với giá trị tài sản là 406.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
[5] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[6] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn được quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Mặc dù bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu. Mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và thể hiện bản tính xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại Tống Văn B đã nhận lại tài sản là 01 cuộn lưới B40 trọng lượng 58 kg và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
[9] Xử lý vật chứng:
Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho bị hại Tống Văn B 01 cuộn lưới B40 trọng lượng 58 kg là phù hợp nên ghi nhận.
Đối với xe mô tô biển số 7181-400.54, nhãn hiệu LONCIN, màu nâu mà Nguyễn Văn T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Qua điều tra xác định được là của bà Ngô Thị Ngọc N, (mẹ ruột T) mua nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên. Bà N khai ngày 13/04/2024 bà để xe ở nhà, T tự ý lấy đi phạm tội bà không hay biết. Do xe không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho bà N. Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre trả lại cho bà Ngô Thị Ngọc N một xe mô tô biển số 7181-400.54, nhãn hiệu LONCIN, màu nâu là phù hợp nên ghi nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[1] Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10 (Mười) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2024.
[2] Trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị hại Tống Văn B đã nhận lại tài sản là 01 cuộn lưới B40 trọng lượng 58 kg và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
[3] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho bị hại Tống Văn B 01 (một) cuộn lưới B40 trọng lượng 58 kg và trả lại cho bà Ngô Thị Ngọc N 01 (một) xe mô tô biển số 7181-400.54, nhãn hiệu LONCIN, màu nâu.
[4] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Như Phương |
5
Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 93/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản Nguyễn Văn T
