Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 93/2024/HS-ST

Ngày: 31/10/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Trần Anh Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan và ông Nguyễn Duy Quyền.

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tấn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 31/10/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2024/HS-ST ngày 02/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST – HS ngày 17/10/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức S, sinh năm 1977 tại xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú và nơi ở trước khi bị tạm giữ, tạm giam: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn L và bà Lê Thị T; vợ đã ly hôn: Phạm Thị Thùy L; bị cáo có 01 con sinh năm 2001.

Tiền án, tiền sự: Không.

Đặc điểm nhân thân: Ngày 03/01/2017, Tòa án nhân dân huyện B ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Nguyễn Đức S vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Ngày 09/01/2019, S chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/8/2024, chuyển tạm giam từ ngày 26/8/2024; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/8/2024, bị cáo Nguyễn Đức S đi bộ từ nơi ở đến khu vực Chùa Môi thuộc xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam với mục đích tìm mua ma túy đá về để sử dụng. Khi đến nơi, S gặp và mua của một người đàn ông không quen biết đứng ở lề đường một lượng ma túy đá được đựng 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được túi ma túy, S cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi S đi bộ về đến khu vực cầu Rằm thuộc thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam thì bị Tổ công tác của Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã T yêu cầu kiểm tra. S đã tự giác đưa 01 túi nilon màu trắng có kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng mà S đang cầm trong lòng bàn tay trái để giao nộp cho lực lượng Công an, đồng thời S khai nhận đó là túi ma túy đá của S vừa mua được và cất giữ để sử dụng cho bản thân. Trên cơ sở lời khai ban đầu của đối tượng, lực lượng Công an đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Đức S, thu giữ vật chứng như trên, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT.

Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức S tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 629/KL-KTHS ngày 22/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,173g (Không phẩy một trăm bảy mươi ba gam) loại: Methamphetamine”.

Tại Cáo trạng số 84/CT - VKS - MT ngày 01/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố Nguyễn Đức S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bị cáo Nguyễn Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu huỷ số ma túy cùng bao gói mẫu vật còn lại sau giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo S khai nhận hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về các quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện B; Viện kiểm sát nhân dân huyện B và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có khiếu nại gì về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng.
  2. Về tội danh: Hành vi tàng trữ 0,173 gam ma túy, loại: Methamphetamine với mục đích sử dụng bị Lực lượng Công an bắt quả tang vào khoảng 12 giờ ngày 17/08/2024 tại đoạn đường thuộc khu vực cầu R, thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam của bị cáo Nguyễn Đức S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
  3. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
    • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình” được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
  4. Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; vi phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn không từ bỏ được ma túy vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

    Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ cũng như hoàn cảnh gia đình của bị cáo để quyết định mức hình phạt.

  5. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, xét bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  6. Về xử lý vật chứng của vụ án: Xét số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
  7. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
  8. Các tình tiết khác liên quan đến vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy không có đủ căn cứ để xác định làm rõ đối tượng bán ma túy và nguồn gốc ma túy.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 17/08/2024).
  3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong có số 629/KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam. Vật chứng được xác định theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.
  4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đức S phải nộp 200.000 đồng.

Án xử công khai; báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao (Vụ Giám đốc kiểm tra I);
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND huyện B;
  • - Công an huyện B;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện B;
  • - Chi cục THADS huyện B;
  • - UBND xã T;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ và văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Đặng Trần Anh Dũng

(đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 93/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo: Nguyễn Đức S, sinh năm 1977 ; nơi đăng ký thường trú và nơi ở trước khi bị tạm giữ, tạm giam: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger