Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27-8-2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Kim Hường
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Trần Thị Ngọc Trân
Bà Nguyễn Hồng Xứng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Bà Đào Thị Ngọc Trâm – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2023/HNGĐST ngày 20 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Gương, sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp Minh Kiên A, xã Minh Thuận, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang

- Bị đơn: Ông Yang Lian Jun, sinh năm 1983

Địa chỉ: Số 55 Thượng Đầu, thôn Trúc Nham, xã Đông Dương, huyện Quảng Phong, thành phố Thượng Nhiều, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc

(Bà Gương có đơn xin vắng mặt, ông Yang Lian Jun vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 30/01/2023 và bản tự khai ngày 07/4/2023 bà Nguyễn Thị Gương trình bày:

Năm 2014, bà và ông Yang Lian Jun quen biết qua mai mối, sau khi tìm hiểu phát sinh tình cảm và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Trung Quốc vào ngày 22/3/2019, không ghi chú kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Việt Nam. Sau khi kết hôn, bà sang Trung Quốc đoàn tụ cùng chồng, ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do vấn đề kinh tế, làm ăn, quan điểm sống không phù hợp nên bà đã trở về Việt Nam và không còn liên lạc với ông Jun từ tháng 8 năm 2020 đến nay.

Nay bà nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông Yang Lian Jun, hôn nhân giữa bà và ông Yang Lian Jun không thể duy trì chung sống với nhau nên bà yêu cầu ly hôn với ông Yang Lian Jun.

Về con chung, tài sản chung; nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Yang Lian Jun: vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và chưa có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Gương theo thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ của Tòa án và niêm yết trên Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang có ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Gương, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Gương với ông Yang Lian Jun, do bà Gương và ông Yang Lian Jun không đăng ký ghi chú kết hôn tại Việt Nam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Gương có đơn xin vắng mặt; bị đơn ông Yang Lian Jun vắng mặt tại phiên tòa theo thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ. Căn cứ Điều 228, Điều 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Gương và ông Yang Lian Jun.

[2] Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Gương và ông Yang Lian Jun là hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Trung Quốc nhưng không ghi chú kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định pháp luật Việt Nam nên không được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nguyên nhân ly hôn: Theo bà Gương trình bày do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, làm ăn nên bà đã trở về Việt Nam và không còn liên lạc với nhau từ tháng 8/2020 đến nay. Đối với ông Yang Lian Jun, Tòa án đã thực hiện ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông Yang Lian Jun không có ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Gương.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà bà Nguyễn Thị Gương và ông Yang Lian Jun hai bên đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó qua thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Gương, không công nhận vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Gương với ông Yang Lian Jun.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Gương trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

[3] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, bà Nguyễn Thị Gương phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí bà đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0008388 ngày 17/3/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

[4] Về chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Áp dụng khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 7 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC. Bà Nguyễn Thị Gương phải chịu phí ủy thác tư pháp 200.000đ, bà Gương đã nộp theo biên lai thu số 0016421 ngày 07/4/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm c khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Gương.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Gương với ông Yang Lian Jun.
  2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Gương xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Gương phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí bà đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu số 0008388 ngày 17/3/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
  4. Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Nguyễn Thị Gương phải chịu phí ủy thác tư pháp 200.000đ, bà Gương đã nộp theo biên lai thu số 0016421 ngày 07/4/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
  5. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Gương có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được Tòa án niêm yết. Riêng ông Yang Lian Jun có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung./.

Nơi nhận:

THẨM

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Kim Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 93/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 93/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị G ly hôn Yang Liao J
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger