|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————————————— |
Bản án số: 93/2021/HNGĐ-ST
Ngày 30-6-2021
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Vũ Minh Hoàng.
- 2. Ông Trần Minh Út.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 261/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Lê Duy T, sinh năm 1984 (Có mặt).
- - Bị đơn: Chị Nguyễn Chúc L, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 4 năm 2021 cùng các văn bản khác kèm theo và tại phiên tòa, anh Lê Duy T trình bày: Vào năm 2003 anh và chị Nguyễn Chúc L chung sống với nhau như vợ chồng nhưng đến nay chưa đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống thì bắt đầu từ năm 2017 giữa anh và chị L xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên thường xuyên cự cải và vợ chồng đã thống nhất sống ly thân từ thời gian đó để hai bên có thời gian suy nghĩ, xem xét lại mối quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên giữa anh và chị L vẫn không giải quyết được mâu thuẫn để hàn gắn mà sống ly thân cho đến nay. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Chúc L. Về con chung, có một người tên là Lê Thị Ngọc A (giới tính nữ), sinh ngày 24 tháng 8 năm 2004, hiện do anh trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Lê Thị Ngọc A và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung anh chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Chúc L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Đồng thời, cũng không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của anh Lê Duy T.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 9, 14, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, không công nhận anh T với chị L là vợ chồng. Giao Lê Thị Ngọc A (giới tính nữ), sinh ngày 24 tháng 8 năm 2004 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị L không cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Việc anh Lê Duy T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Chúc L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn chị Nguyễn Chúc L cư trú tại ấp H, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Chúc L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Nguyễn Chúc L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét về hôn nhân, anh Lê Duy T và chị Nguyễn Chúc L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003 đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân giữa anh T và chị L vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ vào quy định tại các Điều 9, 14 của Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa anh T và chị L không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Anh Lê Duy T và chị Nguyễn Chúc L không được công nhận là vợ chồng.
[3] Về con chung, anh T và chị L có một người tên là Lê Thị Ngọc A (giới tính nữ), sinh ngày 24 tháng 8 năm 2004. Anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Lê Thị Ngọc A và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, Lê Thị Ngọc A hiện do anh T trực tiếp nuôi dưỡng và Lê Thị Ngọc A cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với anh T, đồng thời chị L cũng không có ý kiến phản đối với yêu cầu được nuôi con của anh T. Do đó nhằm để ổn định về điều kiện môi trường sống và đảm bảo sự phát triển bình thường của con chưa thành niên nên giao cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp. Anh T không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
[4] Anh Lê Duy T xác định tài sản chung và nợ chung chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị Nguyễn Chúc L không có ý kiến về vấn đề trên nên không đặt ra xem xét.
[5] Do đó, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ để chấp nhận.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh Lê Duy T phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 9, 14, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Tuyên bố: Không công nhận anh Lê Duy T và chị Nguyễn Chúc L là vợ chồng.
- Về con chung, giao anh Lê Duy T trực tiếp nuôi dưỡng Lê Thị Ngọc A (giới tính nữ), sinh ngày 24 tháng 8 năm 2004. Chị Nguyễn Chúc L không cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Chúc L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh Lê Duy T phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0017275, ngày 06 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên anh Lê Duy T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Huệ |
Bản án số 93/2021/HNGĐ-ST ngày 30/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 93/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Không công nhận anh Lê Duy T và chị Nguyễn Chúc L là vợ chồng. Về con chung, giao anh Lê Duy T trực tiếp nuôi dưỡng Lê Thị Ngọc A (giới tính nữ), sinh ngày 24 tháng 8 năm 2004. Chị Nguyễn Chúc L không cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Chúc L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
