Hệ thống pháp luật

Bản án số: 92a/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03-12-2025

Về việc “Ly hôn, quyền trực tiếp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Nữ Ngọc Diệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Huy Đạt

Ông Ngô Đăng Ký

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân

khu vực 3 - Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh tham gia phiên

tòa: Ông Trần Ngọc An - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 13/10/2025 về việc “Ly hôn, quyền trực tiếp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33a/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025, quyết định hoãn phiên toà số 28a/2025/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Hồ Thảo L, sinh ngày: 23/6/1992, nơi thường trú: Thôn T, phường S, tỉnh Hà Tĩnh, số CCCD: [...].
  • - Bị đơn: Anh Trần Đức A, sinh ngày: 15/02/1991, nơi thường trú: Tổ dân phố G N, phường N, tỉnh Hà Tĩnh, hiện nay đang lao động tại Ba Lan, số CCCD: [...];
  • - Người tham gia tố tụng khác: Ông Trần Văn L1, sinh năm: 1953, địa chỉ: Tổ G, phường N, tỉnh Hà Tĩnh.

(Các đương sự đều vắng mặt tại phiên toà, có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai của nguyên đơn, ghi nhận ý kiến của bị đơn, cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, vụ án có nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tự do tìm hiểu, yêu thương, ngày 21/01/2015, chị Hồ Thảo L và anh Trần Đức A đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã H (nay là Ủy ban nhân dân phường N), tỉnh Hà Tĩnh, theo Sổ đăng ký số 06/2015, quyển số 01/2014. Gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc tại tổ dân phố G N, phường N và có 02 (hai) con chung. Đến tháng 11/2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, khác biệt về lối sống. Năm 2023, anh A đi lao động ở nước Ba Lan đến nay chưa về Việt Nam. Từ đó, mâu thuẫn giữa chị L, anh A ngày càng trầm trọng, ly thân từ năm 2023. Đến nay, tình trạng hôn nhân không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Hồ Thảo L khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Trần Đức A.

Về con chung: Chị Hồ Thảo L, anh Trần Đức A có 02 (hai) con chung là Trần Ngọc Bảo C, sinh ngày: 15/02/2018 và Trần Hồ Minh Q, sinh ngày: 16/11/2015. Chị L yêu cầu giao 02 (hai) con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi. Yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung 5.000.000đ (năm triệu đồng)/ tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bằng hình thức gọi điện thoại ghi hình có âm thanh kết nối từ facebook “Trần Ank” đến facebook “Luat Tran”, bị đơn – anh Trần Đức A trình bày: Thống nhất với về thời gian, địa điểm kết hôn, thời điểm, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tình trạng vợ chồng hiện nay như nội dung đơn khởi kiện của chị Hồ Thảo L. Anh A khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị L. Về con chung: Anh A đồng ý giao quyền trực tiếp nuôi hai con chung cho chị L vì hiện nay anh A đang lao động ở Ba Lan, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc cho các con. Anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con 05 (năm) triệu đồng/ tháng đến khi các con đủ 18 tuổi, vào ngày 05 hàng tháng bằng hình thức chuyển khoản cho chị L. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh A lao động tự do nên không cung cấp được địa chỉ tại Ba Lan, đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt và ủy quyền giao nhận tài liệu chứng cứ cho cha đẻ là ông Trần Văn L1.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, ghi nhận nội dung sự việc do người tham gia tố tụng khác – ông Trần Văn L1 cung cấp: Anh Trần Đức A là con trai của ông, hiện đang lao động tại Ba Lan, ông không biết địa chỉ cụ thể của anh A nên không cung cấp được cho Toà án. Tuy nhiên, anh A vẫn thường xuyên liên lạc về nhà qua điện thoại và ông đã thông báo cho anh A thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng của Tòa án. Về mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L, anh A ông không biết nguyên nhân cụ thể, tuy nhiên từ năm 2023 chị L đã đưa con về quê ngoại sinh sống. Ông đồng ý nhận ủy quyền giao nhận tài liệu chứng cứ, cam đoan thông tin đầy đủ cho anh A.

Tại công văn số 213/CV-CANHL, ngày 24/11/2025 về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ Công an phường N, tỉnh Hà Tĩnh có nội dung: Anh Trần Đức A hiện đăng ký thường trú tại địa phương nhưng vắng mặt vì đang đi lao động ở nước ngoài (Ba Lan).

Tại Công văn số 943/UBND-TP ngày 25/11/2025 của Ủy ban nhân dân phường N thể hiện: Chị Hồ Thảo L, anh Trần Đức A đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường N, thị xã H (nay là UBND phường N), tỉnh Hà Tĩnh. Về mâu thuẫn vợ chồng và nguyên nhân chính quyền không nắm bắt được thông tin cũng như chưa hoà giải tranh chấp hôn nhân gia đình lần nào. Về yêu cầu của nguyên đơn, Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Hà Tĩnh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ việc, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 3 Điều 2, khoản 1 Điều 28,

Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228, Điều 238, điểm b khoản 2 Điều 464, khoản 1 Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, Điều 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thảo L. Tuyên xử chị Hồ Thảo L và anh Trần Đức A ly hôn. Đề nghị giao hai con chung Trần Ngọc Bảo C, sinh ngày: 15/02/2018 và Trần Hồ Minh Q, sinh ngày: 16/11/2015 cho chị Hồ Thảo L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ghi nhận sự thoả thuận của anh A và chị L về việc anh A cấp dưỡng nuôi hai con chung 05 (năm) triệu đồng/tháng đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi, cấp dưỡng vào ngày mồng 05 hàng tháng bằng phương thức chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng cho chị Hồ Thảo L. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên miễn xét. Về án phí: Buộc các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Thủ tục tố tụng:

[1.1] Tại Công văn số 1519/QLXC-Đ1 ngày 04/11/2025 của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh H cung cấp thông tin: Bị đơn – anh Trần Đức A xuất cảnh lần gần đây nhất vào ngày 01/3/2025 qua Sân bay Quốc tế N, chưa có thông tin nhập cảnh trên hệ thống. Xác nhận thông tin về cư trú của Công an phường N thể hiện anh Trần Đức A đăng ký thường trú tại tổ dân phố G N, phường N, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại khoản 14 Điều 3; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình để xác minh về địa chỉ, quan điểm của bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài. Anh Trần Đức A không đến Toà án làm việc cũng như không gửi văn bản, tài liệu nhưng thông qua người thân thích trình bày ý kiến về nội dung yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, Toà án tiến hành thu thập chứng cứ, ghi nhận ý kiến của bị đơn, thông báo thời gian tố tụng thông qua người thân thích hiện đang sinh sống tại Việt Nam đồng thời thông báo 03 (ba) số liên tiếp trên kênh V của Đ tiếng nói Việt Nam để bị đơn thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

[1.3] Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt (nguyên đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn trình bày ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt). Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo thủ tục chung.

[2] Nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Anh Trần Đức A và chị Hồ Thảo L tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 21/01/2015 tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã H (nay là Ủy ban nhân dân phường N), tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì hôn nhân của anh Trần Đức A và chị Hồ Thảo L là hợp pháp.

[2.2] Xác định tình trạng hôn nhân: Anh Trần Đức A và chị Hồ Thảo L phát sinh mâu thuẫn trong quá trình sống chung, trở nên trầm trọng dẫn đến ly thân từ năm 2023 khi anh A đi lao động tại Ba Lan. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng sống xa nhau không có thời gian hàn gắn mâu thuẫn, tình cảm phai nhạt dần, không còn sự quan tâm, chăm sóc. Anh A, chị L không mong muốn đoàn tụ và yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn.

[2.3] Pháp luật về Hôn nhân và gia đình Việt Nam có chính sách và biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ... nhưng hôn nhân của anh Trần Đức A, chị Hồ Thảo L không còn hướng tới xây dựng gia đình hạnh phúc.

[2.4] Tại điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và Gia đình quy định: “ Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được là thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng”.

[2.5] Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Ly hôn theo yêu cầu của một bên: Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” (khoản 1 Điều 56).

[2.6] Xét thấy, hiện nay, tình cảm vợ chồng giữa anh Trần Đức A và chị Hồ Thảo L không còn. Vợ chồng sống ly thân, không yêu thương, quan tâm đến nhau, mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thảo L như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở. Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho anh Trần Đức A và chị Hồ Thảo L ly hôn là đúng quy định của pháp luật.

[2.7] Quan hệ con chung: Anh Trần Đức A và chị Hồ Thảo L có 02 (hai) con chung là Trần Ngọc Bảo C, sinh ngày: 15/02/2018 và Trần Hồ Minh Q, sinh ngày: 16/11/2015. Quá trình giải quyết vụ án, anh A, chị L tự thoả thuận giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho chị L. Thấy rằng, hiện nay anh A đang lao động tại Ba Lan không đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung. Thu nhập của chị L đảm bảo để nuôi dưỡng các con; từ khi anh A đi Ba Lan, con chung được chị L

trông nom, chăm sóc; các con phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, được học tập, vui chơi đầy đủ; các con chung đều có văn bản thể hiện nguyện vọng được ở cùng với chị L. Do đó, để đảm bảo sự ổn định về môi trường sống, học tập của các con, ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự, giao con chung Trần Ngọc Bảo C, Trần Hồ Minh Q cho chị Hồ Thảo L trực tiếp thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp, đúng pháp luật. Trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới.

[2.8] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thống nhất về nghĩa vụ cấp dưỡng. Do đó, ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự, anh A thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung 05 (năm) triệu đồng/tháng đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi, cấp dưỡng vào ngày mồng 05 hàng tháng bằng phương thức chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng cho chị Hồ Thảo L.

[2.9] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.

Trong trường hợp phát sinh tranh chấp đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

[3] Về án phí: Chị Hồ Thảo L phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình, anh Trần Đức A phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 2, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, các Điều 235, 238, 266, điểm b khoản 2 Điều 464, điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Áp dụng Điều 39 Bộ luật Dân sự; các Điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83,123, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ thảo L, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thảo L, sinh ngày: 23/6/1992, nơi thường trú: Thôn T, phường S, tỉnh Hà Tĩnh, số CCCD: [...] và anh Trần Đức A, sinh ngày: 15/02/1991, nơi thường trú: Tổ dân phố G N, phường N, tỉnh Hà Tĩnh, hiện nay đang lao động tại Ba Lan, số CCCD: [...]: Ly hôn.
  2. Về con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự, giao hai con chung Trần Ngọc Bảo C, sinh ngày: 15/02/2018 và Trần Hồ Minh Q, sinh ngày: 16/11/2015 cho chị Hồ Thảo L trực tiếp thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con đủ 18 tuổi. Trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới.

    Anh Trần Đức A có quyền đi lại thăm non con chung không ai được cản trở.

  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự, anh Trần Đức A thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung 05 (năm) triệu

đồng/tháng đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi, cấp dưỡng vào ngày mồng 05 hàng tháng bằng phương thức chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng cho chị Hồ Thảo L.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 7, khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 và mục A danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc chị Hồ Thảo L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị L đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai số 0000212 ngày 13/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Anh Trần Đức A phải nộp 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 273, khoản 1, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự: Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND KV3- Hà Tĩnh;
  • - THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng THADS khu vực 3 – Hà Tĩnh;
  • - UBND phường Nam Hồng Lĩnh;
  • - Công an phường Nam Hồng Lĩnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Nữ Ngọc Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92a/2025/HNGĐ-ST ngày 03/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH về ly hôn, quyền trực tiếp nuôi con

  • Số bản án: 92a/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, quyền trực tiếp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn chị Hồ Thảo L yêu cầu ly hôn bị đơn anh Trần Đức A và giải quyết vấn đề con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger