|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 92A/2024/DS-PT
Ngày: 06/12/2024
V/v: “T/c Hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Ngọc Minh
Các thẩm phán: Ông Trần Minh Quang và ông Mai Tấn Hoàng.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sáu - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 68/2024/TLPT-DS ngày 14/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1947; Địa chỉ: Thôn Â, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Lê Văn D, sinh năm 1971 và bà Đoàn Thị L, sinh năm 1977; Cùng địa chỉ: Thôn Â, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Đều có mặt.
- - Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn D.
- - Người làm chứng:
- + Bà Bùi Thị Thu H, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn Â, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
- + Bà Bùi Thị Thu H1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn Â, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị Đ trình bày:
Vì chỗ quen biết nhau bà Đ có cho bà Đoàn Thị L và ông Lê Văn D vay nhiều lần tiền lần 1 vay 10.000.000 đồng vào ngày 02/2/2022 (âm lịch); lần 2 vay 40.000.000 đồng vào ngày 15/3/2022 (âm lịch); lần 3 vay 12.000.000 đồng vào ngày 25/7/2022 (âm lịch); lần 4 vay 40.000.000 đồng vào ngày 30/01/2023 (âm lịch). Tổng bốn lần bà Đ cho bà L1, ông D vay 102.000.000 đồng; khi vay hai bên thỏa thuận bằng miệng với lãi suất 20%/năm, trong thời gian vay bà L1, ông D đã trả cho bà Đ được 7.000.000 đồng tiền lãi, không trả tiền nợ gốc. Bà Đ cần tiền yêu cầu ông D, bà L trả nợ nhiều lần, nhưng ông, bà không trả. Nay bà Đ khởi kiện yêu cầu ông D, bà L trả một lần đủ số tiền vốn gốc đã nợ là 102.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị L trình bày:
Thực tế ông D, bà L có vay của bà Đ số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 02/2/2022 (âm lịch), lúc vay hai bên thỏa thuận lãi suất là cứ 1.000.000 đồng thì trả lãi mỗi tháng 100.000 đồng và sau đó vào ngày 22/3/2022 (âm lịch) vay thêm 20.000.000 đồng, còn thực tế giấy ký vay vào ngày 25/7/2022 số tiền 12.000.000 đồng và giấy vay ngày 15/3/2022 (âm lịch) số tiền 40.000.000 đồng là tiền lãi bà Đ ép vợ chồng ông D, bà L1 phải ký; sau một thời gian bà Đào C lại tiền lãi và tiền nợ gốc và bắt ông D, bà L ký giấy vay ngày 30/01/2023 số tiền 40.000.000 đồng. Nay bà Đ yêu cầu trả số tiền 102.000.000 đồng bà L, ông D thừa nhận có vay và chấp nhận trả bà Đ 50.000.000 đồng đã trả 7.000.000 đồng còn nợ lại 43.000.000 đồng xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 26; Điều 35, Điều 39; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; điêm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn bà Đoàn Thị L, ông Lê Văn D phải trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị Đ số tiền vay còn nợ 102.000.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/9/2024 và ngày 12/9/2024, bị đơn ông Lê Văn D kháng cáo sửa toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Lê Văn D kháng cáo trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: nguyên đơn yêu cầu trả tiền gốc và không yêu cầu tính lãi, các bên thừa nhận hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận lãi suất theo quy định pháp luật nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn D: Kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Hòa.
Vợ chồng ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị L cho rằng chỉ vay bà Phạm Thị Đ số tiền gốc là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) (Trong đó: Lần 1 là 10.000.000 đồng vào ngày 02/2/2022 (âm lịch) và Lần 2 là 20.000.000 đồng vào ngày 22/3/2022 (âm lịch)). Xét thấy, ông Lê Văn D và bà Đoàn Thị L thừa nhận vay tiền bà Phạm Thị Đ; đồng thời xác nhận chữ ký, chữ viết trong “bốn giấy nhận nợ tiền” là của vợ chồng ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị L; tuy nhiên, ông D, bà L1 cho rằng giấy ký vay vào ngày 25/7/2022 số tiền 12.000.000 đồng và giấy vay ngày 15/3/2022(âm lịch) số tiền 40.000.000 đồng là tiền lãi bà Đ ép vợ chồng ông D, bà L phải ký; sau một thời gian bà Đào C lại tiền lãi và tiền nợ gốc và bắt ông D, bà L ký giấy vay ngày 30/01/2023 số tiền 40.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ nào để chứng minh và trong các giấy nhận nợ cũng không thể hiện mức lãi suất, nên lời trình bày của bị đơn là không có căn cứ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Thị Đ trình bày tại Biên bản hòa giải ngày 31/5/2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, nội dung: “Nguyên trước đây ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị L có vay tiền của bà Đ nhiều lần tính đến ngày 31/5/2024 ông D, bà L còn nợ của bà Đ số tiền vay còn lại 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng), nay yêu cầu ông D, bà L trả đủ” (Bút lục 43). Ngoài ra, Giấy thỏa thuận ngày 14/6/2024 (Bút lục 58) thể hiện nội dung: “Hai bên thống nhất tự nguyện chốt lại số nợ vay bà L, ông D hiện còn nợ bà Đ số vay còn lại 80.000.000 (Tám mươi triệu đồng chẵn)”. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đ trình bày sự khác nhau của số tiền ông D, bà L vay bà Đ là do hai bên thỏa thuận vợ chồng ông D, bà L trả đủ một lần số tiền vay nợ thì bà Đ đồng ý giảm số tiền cho vay nợ, nhưng vợ chồng ông D, bà L không thực hiện được như thỏa thuận nên bà Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu ông D, bà L trả một lần đủ số tiền vốn gốc đã nợ là 102.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi là phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và quy định pháp luật.
Xét việc bị đơn bà L1, ông D đã nợ số tiền vay của nguyên đơn bà Đ mà không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là vi phạm hợp đồng. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán nợ là có cơ sở phù hợp với "bốn giấy nhận nợ tiền", phù hợp quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn bà L1, ông D phải trả cho nguyên đơn bà Đ số tiền vay còn nợ 102.000.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu đồng).
Đối với số tiền 7.000.000 đồng, nguyên đơn bà Đ thừa nhận đây là số tiền bà L1, ông D trả tiền lãi, nhưng bà L, ông D cho rằng trả tiền nợ gốc. Việc này cho thấy từ khi bà L, ông D vay tiền của bà Đ từ năm 2022 không chứng minh được chứng cứ đã trả lãi cho bà Đ, nên số tiền này bà Đ cho rằng là tiền lãi là phù hợp và phù hợp với lãi suất cơ bản trên số tiền nợ gốc mà bà L, ông D đã vay của bà Đ. Nên yêu cầu của bị đơn khẩu trừ số tiền này vào tiền gốc là không có cơ sở để chấp nhận
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể thỏa mãn với yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn D.
[3] Về án phí: Bị đơn Lê Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm vì kháng cáo không được chấp nhận theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Lê Văn D – Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn bà Đoàn Thị L, ông Lê Văn D phải trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị Đ số tiền vay còn nợ 102.000.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Về án phí:
Bị đơn ông Lê Văn D, bà Đoàn Thị L phải chịu 5.100.000 đồng (Năm triệu một trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn Lê Văn D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0004835 ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Minh |
Bản án số 92A/2024/DS-PT ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 92A/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
