|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 929/2023/HSPT |
|
|
Ngày: 16/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- + Thẩm phán Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Huyền
- + Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Đăng Phong
- Bà Chử Phương Ngọc
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Lưu Quang Anh- Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lưu Mạnh Hoan- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 784/2023/HSPT ngày 17/10/2023 do có kháng cáo của bị cáo Lê Bá T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 243/2023/HSST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Lê Bá T - sinh năm 1968; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Số nhà G phố T, phường G, quận H, Hà Nội; Nơi tạm trú: Số D ngõ B phố Chợ K, phường P, quận Đ, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 04/10; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Lê Bá T1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T2; Vợ: Chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không; D bản, chỉ bản: 38, lập ngày 05/01/2023, tại Công an quận Đ; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2022; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H.
Nhân thân: Bản án số 112/2019/HSST ngày 26/4/2019 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2018. Ra trại ngày 21/01/2020. (đã xóa án tích).
Có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo, Toà không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Đống Đa thì vụ án có nội dung như sau:
Khoảng 09h30' ngày 20/12/2022, tổ công tác Công an phường P tiến hành kiểm tra hành chính tầng 3 số nhà D, ngõ B, phố Chợ K, phường P, quận Đ, Hà Nội. Qua kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện Lê Bá T (sinh năm 1968; trú tại số nhà G phố T, phường G, quận H, Hà Nội), Đỗ Đắc T3 (sinh năm 1969; trú tại xóm B, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên) và Nguyễn Đức C (sinh năm 1973; trú tại số nhà F, tổ A, phường V, quận H, Hà Nội) đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan công an đã thu giữ tại khu vực trên giường chỗ T, C và T3 đang ngồi 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước (03x05)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy và 01 (một) chai nhựa tự chế, phần đầu có gắn 01 ống nhựa và 01 ống thủy tinh để sử dụng ma túy. Tại chỗ, T, C, T3 khai nhận tang vật trên là ma túy đá các đối tượng đang sử dụng. Tổ công tác tiếp tục phát hiện và thu giữ tại đầu giường cạnh vị trí T đang ngồi 01 (một) hộp nhựa màu trắng, kích thước khoảng (10x03)cm bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. T khai nhận chiếc hộp trên có chứa ma túy đá, T cất giấu trong nhà để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở để xác minh làm rõ.
Tại bản Kết luận giám định số 8653/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:
- - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,814 gam.
- - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông (để bên trong 01 hộp nhựa hình trụ hình tròn) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 3,605 gam.
- - 01 bộ tẩu hút tự tạo có dính ma túy loại Methamphetamine.
Ngoài số ma túy tang vật, cơ quan Công an còn thu giữ:
- - Thu giữ của Lê Bá T:
- + 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng; 02 tờ tiền Việt Nam, mệnh giá 50.000 đồng;
- + 01 (một) điện thoại di động Vivo 1820, màu xanh có số IMEI 1: 860900045352630 và IMEI 2: 860900045352622.
- - Thu giữ của Nguyễn Đức C:
- + 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy J7 màu trắng, IMEI 1: 352810097697141, IMEI 2: 352811097694149.
- - Thu giữ của Đỗ Đắc T3:
- + 01 (một) chiếc điện thoại Redmi 10C màu đen, IMEI 1: 864763067278166, IMEI 2: 864763067278174;
- + 01 (một) xe máy hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS: 89E1-373.85.
Tại cơ quan điều tra, Lê Bá T khai nhận: Vào khoảng 17h00' ngày 19/12/2022, T đi bộ ra trước số nhà B phố X, phường P, quận Đ, Hà Nội mua của một người phụ nữ không quen biết 02 túi ma túy đá với giá 800.000 đồng với mục đích để sử dụng. Sau đó, T mang về và cất giấu tại tầng 3, số nhà D, ngõ B phố Chợ K, phường P, quận Đ, Hà Nội. Khoảng 9h00' ngày 20/12/2022, Nguyễn Đức C (là bạn xã hội) có gọi điện cho T hẹn đến nhà. Sau khi T3 và C đến nhà T, T3 có đưa cho T số tiền là 200.000 đồng. T cầm tiền và đưa 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá cùng 01 (một) túi ma túy đá xuống giường. Tại đây, T, C, T3 cùng nhau sử dụng số ma túy mà T đưa ra. Khi đang sử dụng ma túy, thì bị cơ quan Công an bắt giữ. Đối với việc thu số tiền 200.000 đồng của T3, ban đầu T khai nhận là để bán ma túy cho T3. Quá trình điều tra, T thay đổi lời khai về việc nhận 200.000 đồng từ T3 chỉ là để cho C cùng T3 sử dụng ma túy tại chỗ. Đối với 01 (một) túi ma túy đá T đang cất giấu trong chiếc hộp nhựa để ở đầu giường, là ma túy T để sử dụng cho bản thân.
Nguyễn Đức C và Đỗ Đắc T3 khai nhận: Vào khoảng 8h30' ngày 20/12/2022, T3 gọi điện thoại cho C rủ đi tìm mua ma túy và cùng nhau sử dụng. C không có tiền, nhưng T3 bảo là người chi tiền để mua ma túy hai người dùng chung, còn C tìm chỗ mua ma túy và sử dụng. C gọi điện cho Lê Bá T hỏi về việc mua ma túy. Sau khi được T cho địa chỉ nhà, T3 và C đi đến địa chỉ nhà T đang ở. Tại đây, T3 đưa cho T số tiền là 200.000 đồng. Sau khi nhận được tiền từ T3, T đưa bộ đồ sử dụng ma túy đá cùng 01 (một) túi ma túy đá xuống giường. Khi T, C, T3 đang cùng nhau sử dụng số ma túy mà T đưa ra thì bị cơ quan Công an bắt giữ. T3 và C đều không biết khối lượng ma túy cụ thể T bán là bao nhiêu với số tiền 200.000 đồng.
Do không xác định được khối lượng ma túy mà T3 đã mua của T, nên không có căn cứ để xử lý đối với T3 và C về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, C và T3 đều sử dụng ma túy, nên ngày 30/6/2023, Cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Đức C và Đỗ Đắc T3 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 89E1 - 373.85, và 01 điện thoại di động Redmi 10C, màu đen, quá trình điều tra xác minh là của Đỗ Đắc T3. Xét thấy, không liên quan đến vụ án, nên cơ quan điều tra đã trao trả cho T3.
Đối với số ma túy, 01 bộ tẩu hút tự tạo, 01 điện thoại di động Vivo 1820 màu xanh và số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lê Bá T; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức C, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 243/2023/HSST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đã xử và quyết định:
Tuyên bố:
Bị cáo Lê Bá T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý; “Mua bán trái chép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"
Áp dụng:
Điểm c, khoản 1, Điều 249; khoản 1, Điều 251; điểm d, khoản 2, Điều 256; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Lê Bá T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và 09 (C1) năm tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của ba tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 17 (Mười bẩy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/12/2022.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Ngoài ra bản án còn tuyên các quyết định khác về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo.
Không nhất trí với quyết định của án sơ thẩm, trong đơn kháng cáo đề ngày 19/9/2023, bị cáo Lê Bá T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã kết luận:
Về hình thức: Kháng cáo của bị cáo là đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Bá T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý; “Mua bán trái chép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điểm c, khoản 1, Điều 249; khoản 1, Điều 251; điểm d, khoản 2, Điều 256- Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là nặng.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng
điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c, khoản 1, Điều 357- BLTTHS: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Bá T, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 243/2023/HSST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, cụ thể:
Tuyên bố:
Bị cáo Lê Bá T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; “Mua bán trái chép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"
Áp dụng:
Điểm c, khoản 1, Điều 249; khoản 1, Điều 251; điểm d, khoản 2, Điều 256; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 55- Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Bá T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, 30 đến 36 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 13 năm 06 tháng đến 14 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt 20/12/2022.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Kháng cáo của bị cáo là còn trong thời hạn kháng cáo và đúng về chủ thể kháng cáo nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy:
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận thực hiện các hành vi như án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở để khẳng định:
Khoảng 09h00' ngày 20/12/2022, tại tầng 3, số nhà D, ngõ B, phố Chợ K, phường P, quận Đ, Hà Nội (là nhà của Lê Bá T), Nguyễn Đức C và Đỗ Đắc T3 đến để mua và sử dụng ma túy. Thể đã đưa 200.000 đồng cho T, T cầm tiền và đưa 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá cùng 01 (một) túi ma túy đá xuống giường. Tại đây, T, C, T3 cùng nhau sử dụng số ma túy mà T đưa ra. Khi các đối tượng đang sử dụng ma túy thì bị tổ công tác của Công an phường P kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ 0,814 gam ma túy Methamphetamine (là số ma túy các đối tượng đang sử dụng). Ngoài ra, Lê Bá T còn có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (3,605 gam Methamphetamine) với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Bá T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý; “Mua bán trái chép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điểm c, khoản 1, Điều 249; khoản 1, Điều 251; điểm d, khoản 2, Điều 256- Bộ luật hình sự là có căn cứ
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho hành vi phạm tội của bị cáo như: bị cáo đã có 01 tiền án năm 2019 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng đã được xóa án tích, bị cáo không thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thái độ quanh co, nhưng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng với bị cáo là quá nặng. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên có thể chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung.
[3] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các phần khác của bán án không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c, khoản 1, Điều 357- Bộ luật tố tụng hình sự: Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 243/2023/HSST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, cụ thể:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Bá T phạm tội tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng Điểm c, khoản 1, Điều 249; khoản 1, Điều 251; điểm d, khoản 2, Điều 256; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 55- Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Bá T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 02 (hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 20/12/2022.
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136- Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thanh Huyền |
Bản án số 929/2023/HSPT ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ, mua bán và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 929/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, mua bán và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
