Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 928/2024/DS-PT

Ngày: 14/11/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Bùi Thị Kim Dung
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Thu
Bà Lê Thị Ngọc Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 726/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 530/2024/DS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5459/2024/QĐ-PT ngày 15/10/2024 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần C.

Địa chỉ trụ sở: A T, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Ông Lê Quốc T hoặc bà Hoàng Thị Mai H hoặc bà Mai Thị Xuân T1 hoặc ông Ngô Quang N V hoặc ông Đỗ Quốc T2 hoặc ông Nguyễn Văn Đ hoặc ông Trần Hữu N1 hoặc ông Trần Ngọc S. (Có mặt ông T, bà H, ông V, ông S)

Địa chỉ: Số G đường H, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo văn bản ủy quyền số 08/UQ-CNTPHCM-TH ngày 05/7/2024).

Bị đơn: Ông Nguyễn Đình H1, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Số G đường T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

Ông Lê Quang Đ1, sinh năm 1966. (có mặt)

Địa chỉ: Số A đường số A, Khu dân cư C, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo giấy ủy quyền số công chứng 016325 ngày 25/12/2023 lập tại Văn phòng C1).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1966. (có mặt)

Địa chỉ: Số A đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Đình H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần C (sau đây gọi là Ngân hàng) và ông Nguyễn Đình H1 có ký kết Hợp đồng cho vay số 22.373045/2022-HĐCV/NHCT900 ngày 24/5/2022; mục đích cho vay là thanh toán nguồn vốn đã ứng từ người thân để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phục vụ nhu cầu đời sống. Thời hạn cho vay là 420 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản nợ đầu tiên.

Thực hiện Hợp đồng trên, Ngân hàng đã giải ngân với số tiền là 37.000.000.000 (Ba mươi bảy tỷ) đồng cho ông H1 theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 25/5/2022.

Để đảm bảo cho hợp đồng cho vay nêu trên, ông H1 đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 622415, số vào sổ cấp GCN: CH01111 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/7/2011, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đình H1 ngày 19/5/2022, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 22.373045/2022/HĐBĐ/NHCT900 ngày 24/5/2022, đăng ký giao dịch bảo đảm số 001054.TC.005 ngày 24/5/2022.

Từ ngày 25/11/2022, ông H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng ông H1 vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H1 phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền nợ phát sinh từ hợp đồng cho vay, tạm tính đến ngày 09/4/2024 là 42.782.220.199 đồng (nợ gốc: 35.409.510.001 đồng, lãi trong hạn 6.872.883.300 đồng, lãi quá hạn 514.328.107 đồng) và lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 10/4/2024 cho đến khi ông H1 thực hiện xong nghĩa vụ.

Trường hợp ông Nguyễn Đình H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo bản án của Toà án, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BE 622415, số vào sổ cấp GCN: CH01111 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/7/2011, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đình H1 ngày 19/5/2022), theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 22.373045/2022/HĐBĐ/NHCT900 ngày 24/5/2022 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Quang Đ1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Đình H1 trình bày:

Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng liên quan đến khoản vay của ông H1 mà Ngân hàng cung cấp cho Tòa án, ông H1 cho biết ông H1 chỉ là người đứng tên giùm cho bà Nguyễn Thị Kiều L đối với tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ A N, phường Đ, Quận A (qua thủ tục chuyển nhượng từ bà L qua ông H1) nhằm giúp bà L vay tiền Ngân hàng để bà L sử dụng vì bà L đã từng nợ xấu không đứng vay được; ông H1 giao số tiền vay cho bà L sử dụng và bà L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng, ông H1 không sử dụng số tiền vay này và không biết chính xác số nợ gốc lãi; căn nhà 1016 Nguyễn Văn Q đến nay vẫn thuộc sở hữu bà Nguyễn Thị Kiều L, do bà L quản lý sử dụng.

Tại buổi làm việc ngày 10/4/2024, ông Đ1 trình bày đối với số nợ gốc lãi Ngân hàng thông báo ông H1 đề nghị được xem xét giảm lãi, ông H1 có phương án vay tại Ngân hàng khác để trả nợ và đề nghị được trả tổng gốc lãi là 37 tỷ và trả trong vòng 01 tháng kể từ thời điểm Ngân hàng chấp nhận cho trả số tiền này.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều L vắng mặt, không có ý kiến gửi Tòa nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ông Lê Quốc T, bà Hoàng Thị Mai H, ông Ngô Quang Nguyên V, ông Trần Ngọc S là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C thống nhất trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Buộc ông Nguyễn Đình H1 phải trả cho Ngân hàng số tiền là 43.959.829.773 đồng (nợ gốc: 35.409.510.001 đồng, lãi trên nợ gốc: 7.871.741.652 đồng; lãi trên nợ gốc bị quá hạn: 678.578.120 đồng) tính đến ngày 23/7/2024 và lãi tiếp tục phát sinh cho đến khi ông Nguyễn Đình H1 thực hiện xong nghĩa vụ. Thời hạn trả ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp ông Nguyễn Đình H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả khoản nợ trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ Ngân hàng đã tạm nộp, đề nghị ông H1 trả cho Ngân hàng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Ông Lê Quang Đ1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Đình H1 trình bày:

Phía ông H1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng vì ông H1 xác định chỉ đứng vay giùm bà Nguyễn Thị Kiều L, và tại phiên tòa bà L cũng thừa nhận việc ông H1 vay giùm, đây là tình tiết không phải chứng minh; bà L đồng ý chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng, bà L đã có phương án trả nợ.

Ông H1 không phủ nhận các chữ ký của ông H1 trên các văn bản liên quan hợp đồng vay. Tuy nhiên cần làm rõ bản chất của sự việc đề nghị Tòa xem xét trình tự thủ tục cho vay và thủ tục giải ngân tiền vay; đề nghị Tòa đưa ông Lê Tùng D vào tham gia tố tụng để làm rõ mối quan hệ của ông D vì cả ông H1 và bà L đều không biết ông D.

Bà Nguyễn Thị Kiều L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà L đang ở trên căn nhà A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, bà xác nhận có nhờ ông H1 đứng tên căn nhà này để vay tiền giùm bà, bà đề nghị chịu trách nhiệm trả khoản nợ vay của ông H1 tại Ngân hàng nhưng chỉ trả số tiền 37.000.000.000 đồng cho tất cả nợ gốc và lãi phát sinh từ hợp đồng vay.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 530/2024/DS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã:

  • - Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 271; khoản 1 Điều 273, Điều 278; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào các Điều 299, 317, 319, 320, 322, 323, 370, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 91, Điều 95, khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Ngân hàng Thương mại cổ phần C:

1.1. Buộc ông Nguyễn Đình H1 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền là: 43.959.829.773 (Bốn mươi ba tỷ, chín trăm năm mươi chín triệu, tám trăm hai mươi chín nghìn, bảy trăm bảy mươi ba) đồng bao gồm nợ gốc: 35.409.510.001 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 23/7/2024 gồm lãi trên nợ gốc: 7.871.741.652 đồng, lãi trên nợ gốc bị quá hạn: 678.578.120 đồng là nghĩa vụ phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 22.373045/2022-HĐCV/NHCT900 ngày 24/5/2022 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C và ông Nguyễn Đình H1.

Buộc ông Nguyễn Đình H1 tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 24/7/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay và Giấy nhận nợ số 01 số tài khoản 555001310102 ngày 25/5/2022 cho đến khi trả hết nợ.

Thời hạn thi hành: Trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Ngay sau khi ông Nguyễn Đình H1 trả hết nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần C có nghĩa vụ thực hiện giải chấp tài sản bảo đảm theo quy định và trả lại cho ông Nguyễn Đình H1 bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BE 622415, số vào sổ cấp GCN: CH01111 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/7/2011, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đình H1 ngày 19/5/2022.

1.3. Trường hợp ông Nguyễn Đình H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại cổ phần C được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BE 622415, số vào sổ cấp GCN: CH01111 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/7/2011, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đình H1 ngày 19/5/2022) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 22.373045/2022/HĐBĐ/NHCT900 ngày 24/5/2022 để thu hồi nợ.

1.4. Quá trình phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C, sau khi thực hiện xong tất cả nghĩa vụ theo quy định mà giá trị tài sản thế chấp sau khi phát mãi không đủ thanh toán hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C thì ông Nguyễn Đình H1 tiếp tục trả cho đến khi hết nợ; trường hợp giá trị tài sản thế chấp sau phát mãi còn thừa thì được trả lại cho ông Nguyễn Đình H1.

1.5 Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp thì bà Nguyễn Thị Kiều L và những người ở trên tài sản thế chấp tại thời điểm phát mãi tài sản thế chấp có trách nhiệm di dời tài sản của mình đồng thời thực hiện bàn giao tài sản thế chấp cho cơ quan có thẩm quyền.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Sau đó, bị đơn ông Nguyễn Đình H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều L kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

*Bị đơn ông Nguyễn Đình H1 có người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Quang Đ1 trình bày:

Đề nghị hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đưa những người đang cư trú thực tế tại nhà đất số A N vào tham gia tố tụng. Việc mua bán nhà đất giữa ông H1 và bà L là giả tạo, ông H1 chưa nhận nhà đất trên thực tế. Cần đưa ông Lê Tùng D vào tham gia tố tụng để làm rõ về bản chất của việc vay tiền.

*Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều L trình bày:

Đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông H1 chỉ là người đứng tên dùm bà trên giấy chứng nhận nhà đất và hợp đồng vay tiền với Ngân hàng. Các thủ tục nhờ ông H1 đứng tên trên giấy chứng nhận và hợp đồng vay tiền là do nhân viên của Ngân hàng hướng dẫn bà L thực hiện. Bà L trực tiếp giao dịch với Ngân hàng và sử dụng tiền vay được. Do đó bà L đề nghị được thay ông H1 trả khoản nợ vay của Ngân hàng, bà L đề nghị được trả nợ gốc, không trả lãi.

*Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C trình bày:

Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp kháng cáo của bị đơn.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông H1 và bà L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Nguyễn Đình H1 và bà Nguyễn Thị Kiều L kháng cáo cho rằng ông H1 chỉ là người đứng tên giùm cho bà L đối với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ A N, phường Đ, Quận A nhằm giúp bà L vay tiền của Ngân hàng. Toàn bộ số tiền vay của Ngân hàng, ông H1 đã giao cho bà L sử dụng. Hiện nay bà L đồng ý chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng do đó ông H1 không có nghĩa vụ phải trả nợ khoản vay cho Ngân hàng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần C không đồng ý với lời trình bày của ông H1 và bà L. Ngân hàng vẫn yêu cầu ông H1 phải có trách nhiệm trả nợ đối với số tiền mà ông H1 đã vay; Ngân hàng không đồng ý việc bà L trả nợ cho Ngân hàng.

[2] Hội đồng xét xử nhận thấy, theo Hợp đồng cho vay số 22.373045/2022-HĐCV/NHCT900 ngày 24/5/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP C và ông Nguyễn Đình H1 thì ông H1 có ký vay của Ngân hàng số tiền 37.000.000.000 (Ba mươi bảy tỷ) đồng, thời hạn cho vay là 420 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản nợ đầu tiên.

Để đảm bảo cho hợp đồng vay, ông H1 đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh do ông H1 đứng tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 622415 của Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/7/2011, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đình H1 ngày 19/5/2022. Ngân hàng và ông H1 đã lập Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 22.373045/2022/HĐBĐ/NHCT900 ngày 24/5/2022, đăng ký giao dịch bảo đảm số 001054.TC.005 ngày 24/5/2022 tại Chi nhánh Văn phòng Đ2.

Theo nội dung giấy nhận nợ số 01 ngày 25/5/2022 và Ủy nhiệm chi số 8001 ngày 25/5/2022 thì ông H1 đã chỉ định giải ngân số tiền vay trên vào tài khoản của Lê Tùng D, số tài khoản 104875902478; đồng thời ông H1 đã ký Ủy nhiệm chi để chuyển cho người hưởng Lê Tùng D, số tài khoản 104875902478 số tiền 37.000.000.000 đồng.

Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện giải ngân số tiền 37.000.000.000 đồng cho ông H1 theo đúng hợp đồng cho vay đã ký kết.

[3] Ông H1 trình bày ông chỉ là người vay tiền Ngân hàng giúp cho bà L, ông H1 cũng chỉ đứng tên giúp cho bà L trên giấy tờ nhà đất đang thế chấp cho Ngân hàng do đó ông H1 không đồng ý trả khoản nợ đã vay.

Những lời trình bày này của ông H1 là không có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, toàn bộ quá trình ký kết hợp đồng vay tiền, thế chấp tài sản đều do ông H1 thực hiện trực tiếp với Ngân hàng; Ngân hàng không biết bà L cũng như không biết được thỏa thuận riêng giữa ông H1 và bà L. Ông H1 không có lời trình bày nào với Ngân hàng về việc ông chỉ là người vay tiền dùm cho bà L. Việc ông H1 chỉ định giải ngân số tiền 37.000.000.000 đồng vào tài khoản của người thứ ba là quyền tự định đoạt của ông H1, ông H1 không bị ép buộc, lừa dối khi thực hiện các hành vi này. Ngân hàng giải ngân số tiền 37.000.000.000 vào tài khoản mang tên Lê Tùng D là theo chỉ định của ông H1. Hiện nay ông H1 trình bày ông không biết ông D là ai, đề nghị Tòa án phải đưa ông D vào tham gia tố tụng để làm rõ mối quan hệ của ông D là không có cơ sở để chấp nhận.

Ông H1, bà L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc Ngân hàng là bên hướng dẫn bà L phải nhờ ông H1 đứng tên trên giấy

chứng nhận mới vay được tiền của Ngân hàng. Ông H1, bà L cũng không chứng minh được toàn bộ quá trình vay tiền, thế chấp tài sản là do bà L thực hiện với Ngân hàng, không phải do ông H1 thực hiện.

[4] Khi thế chấp tài sản, ông H1 là người đứng tên trên giấy chứng nhận nhà đất. Tại thời điểm Ngân hàng đến thẩm định tài sản, bà L xác nhận bà là người mở cửa nhà cho Ngân hàng vào chụp hình, thẩm định nhà đất. Bà L, ông H1 không có ý kiến hay có lời trình bày nào với Ngân hàng về việc ông H1 chỉ là người đứng tên dùm cho bà L trên giấy tờ nhà đất.

Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/3/2024 của Tòa án cấp sơ thẩm có đại diện của Công an khu vực là ông Trần Thanh D1. Công an khu vực xác định tại nhà A N có bà L đang thực tế cư ngụ, không thể hiện có người nào khác. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H1, bà L không có yêu cầu tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa ông H1 và bà L. Tại thời điểm thế chấp tài sản cho Ngân hàng, ông H1 được Nhà nước công nhận là chủ sử dụng, sở hữu hợp pháp đối với nhà đất 1016 Nguyễn Văn Q.

Toàn bộ quá trình ký kết hợp đồng vay, hợp đồng thế chấp tài sản đều được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, ông H1 tự nguyện ký kết các hợp đồng, Ngân hàng đã thực hiện giải ngân số tiền vay cho ông H1 theo thỏa thuận. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nên Ngân hàng yêu cầu ông H1 phải có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc đã vay và lãi phát sinh cho Ngân hàng theo đúng như các thỏa thuận tại Hợp đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Ngân hàng không đồng ý việc chuyển giao nghĩa vụ trả nợ từ ông H1 sang cho bà L.

Việc thỏa thuận giữa ông H1 và bà L là giao dịch riêng giữa ông H1, bà L; nếu có tranh chấp thì hai bên sẽ giải quyết trong một vụ án khác. Trong vụ án này chỉ có yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay giữa Ngân hàng và ông H1; ông H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu trách nhiệm theo đúng như thỏa thuận tại hợp đồng vay đã ký kết.

Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc: 35.409.510.001 đồng và tiền lãi tính đến ngày 23/7/2024 gồm lãi trên nợ gốc: 7.871.741.652 đồng, lãi trên nợ gốc bị quá hạn: 678.578.120 đồng là có căn cứ, đúng quy định. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên trong trường hợp ông H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản mà ông H1 đã thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo khoản vay là hoàn toàn đúng theo thỏa thuận tại hợp đồng thế chấp hai bên đã ký kết, đúng theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông H1 và bà L; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[4] Về án phí phúc thẩm: Ông H1, bà L phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điều 299, 317, 319, 320, 322, 323, 370, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95, khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đình H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C:

1.1. Buộc ông Nguyễn Đình H1 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền 43.959.829.773 (Bốn mươi ba tỷ chín trăm năm mươi chín triệu tám trăm hai mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi ba) đồng; trong đó bao gồm nợ gốc 35.409.510.001 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 23/7/2024 gồm lãi trên nợ gốc 7.871.741.652 đồng, lãi trên nợ gốc bị quá hạn 678.578.120 đồng theo Hợp đồng cho vay số 22.373045/2022-HĐCV/NHCT900 ngày 24/5/2022 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C và ông Nguyễn Đình H1.

Buộc ông Nguyễn Đình H1 tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 24/7/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay và Giấy nhận nợ số 01 số tài khoản 555001310102 ngày 25/5/2022 cho đến khi trả hết nợ.

1.2. Ngay sau khi ông Nguyễn Đình H1 trả hết nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần C có nghĩa vụ thực hiện giải chấp tài sản bảo đảm theo quy định và trả lại cho ông Nguyễn Đình H1 bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BE 622415, số vào sổ cấp GCN: CH01111 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/7/2011, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đình H1 ngày 19/5/2022.

1.3. Trường hợp ông Nguyễn Đình H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại cổ phần C được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số BE 622415, số vào sổ cấp GCN: CH01111 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/7/2011, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đình H1 ngày 19/5/2022) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 22.373045/2022/HĐBĐ/NHCT900 ngày 24/5/2022 để thu hồi nợ.

1.4. Quá trình phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C, sau khi thực hiện xong tất cả nghĩa vụ theo quy định mà giá trị tài sản thế chấp sau khi phát mãi không đủ thanh toán hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C thì ông Nguyễn Đình H1 tiếp tục trả cho đến khi hết nợ; trường hợp giá trị tài sản thế chấp sau phát mãi còn thừa thì được trả lại cho ông Nguyễn Đình H1.

1.5. Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp thì bà Nguyễn Thị Kiều L và những người ở trên tài sản thế chấp tại thời điểm phát mãi tài sản thế chấp có trách nhiệm di dời tài sản của mình đồng thời thực hiện bàn giao tài sản thế chấp cho cơ quan có thẩm quyền.

2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Đình H1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về án phí: Ông Nguyễn Đình H1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 151.959.829 (Một trăm năm mươi mốt triệu chín trăm năm mươi chín nghìn tám trăm hai mươi chín) đồng.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 73.651.076 (Bảy mươi ba triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn lẻ bảy mươi sáu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0023696 ngày 28/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Đình H1 phải nộp án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà ông H1 đã nộp theo biên thu tạm ứng án phí số 0002223 ngày 19/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Nguyễn Thị Kiều L phải nộp án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà bà L đã nộp theo biên thu tạm ứng án phí số 0002222 ngày 19/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Cục Thi hành án dân sự TP.Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân quận Tân Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 928/2024/DS-PT ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 928/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VAY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger