Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 926/2024/HS-PT

Ngày: 26 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng

Ông Phan Văn Yên

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 588/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Võ Tấn C.

Do bản án hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS –ST ngày 30/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre có kháng cáo của bị cáo Võ Tấn C.

Bị cáo kháng cáo:

Võ Tấn C

, sinh năm 1989 tại tỉnh Bến Tre;

Nơi cư trú: Số B ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn G, sinh năm 1958 và bà Lê Thị R, sinh năm 1963; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 06/4/2023 cho đến nay; có mặt.

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Ông Trần Trọng T là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.

- Người bị hại: Phan Trần T1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số I, Khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 04/4/2023, Lê Văn H đang ngồi nhậu cùng Phan Trần T1 bên hông sân nhà của anh H tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre thì Võ Tấn C điều khiển xe máy biển kiểm soát 71FL-8419 chạy ngang, C bị con chó của H rượt sủa, C điều khiển xe chạy về nhà. Khoảng 05 phút sau, C lấy một con dao tự chế dài khoảng 70cm, bằng sắt, mũi tù, lưỡi dao có một bề bén và một con dao xếp bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 20cm rồi điều khiển xe đi đến nhà H. Khi đi đến nhà H, C dựng xe ngoài đường bê tông rồi cầm dao chạy vào để chém con chó của H nhưng không trúng, C đi đến chỗ H và T1 đang ngồi nhậu, cầm con dao đưa lên chém vào sau ghế của H, H cầm cái bàn lên đỡ thì bị C chém một cái làm hư cái bàn rồi cầm dao đi ra ngoài đường đứng chửi H. Lúc này, Hồ Thị Ngọc G1 là vợ của H năn nỉ kêu C đi về nhưng C không đi về mà cầm dao đi trở vào sân nhà H và tiếp tục chửi. Thấy vậy, H chạy ra sau nhà lấy một đoạn ống tuýp sắt, dài 92cm, đường kính 2,5cm cầm trên tay và lấy đưa T1 cầm một con dao tự chế dài 69cm, cán bằng gỗ dài 17,5cm, lưỡi dao màu trắng dài 51,5cm, nơi rộng nhất 6,2cm rồi cùng nhau đi từ trong nhà ra đánh nhau với C, C cầm dao bằng tay phải vừa lùi vừa chém trả lại. Khi ra đến đường bê tông thì H và T1 cùng chạy tới đối mặt với C, H cầm ống tuýp sắt giơ lên đánh từ trên xuống liên tục về hướng C nhưng không trúng C, C vừa lùi vừa vung dao tự chế lên chém vào ống tuýp sắt của H để đỡ không cho H đánh vào người mình. C lùi được một đoạn khoảng 10 mét thì T1 cầm dao tự chế chạy vượt lên bên trái C đón đầu C. C chuyển hướng qua đối diện với T1, rồi nhào tới cầm dao tự chế bằng tay phải chém trúng vào vùng đầu bên trái của T1, làm Thanh quỵ xuống đường bê tông. Thấy vậy, H cầm ống tuýp sắt đánh trúng vào tay phải của C làm rớt con dao và rớt luôn ống tuýp sắt của H, C tiếp tục dùng tay trái lấy trong người ra con dao xếp bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 20cm, mũi nhọn rồi chuyển sang cầm tay phải đâm một nhát vào vùng ngực bên trái của T1 khiến T1 ngã xuống đường, C cầm dao quay sang đâm H nhưng H chụp được dao rồi giằng co một lúc thì cả hai cùng buông ra. H cùng với chị G1 đưa T1 đi bệnh viện cấp cứu, C chạy xe đến cầu B thuộc ấp H, xã H vứt bỏ dao tự chế và dao xếp xuống sông.

* Vật chứng thu giữ:

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an đã thu giữ:

  • - 01 con dao dài 44cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm, hai đầu cán dao được tra chui kim loại màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại, màu đen dài 30cm, nơi rộng nhất 06cm, loại một lưỡi cắt, mũi dao cong lên trên.
  • - 01 con dao dài 69cm, cán bằng gỗ dài 17,5cm, lưỡi dao màu trắng dài 51,5cm, nơi rộng nhất 6,2cm, trên lưỡi dao có vết thủng tròn gần mũi dao, sống dao có 08 răng cưa ở gần mũi dao, loại một lưỡi cắt, mũi dao cong lên trên, trên bề mặt lưỡi dao bên phải có vùng vết màu nâu, kích thước 4,6cm x 0,5cm, kéo dài từ lưỡi dao về sóng dao.
  • - 01 ống tuýp kim loại, màu xám, dài 92cm, đường kính 2,5cm, một đầu cắt nhọn kích thước 7,5cm, mũi nhọn cong lên trên 02cm.
  • - 01 cái bàn nhựa, màu nâu đỏ, loại bốn chân, đã bị bể.
  • - 01 cái ghế nhựa, loại ghế nhựa có bốn chân, màu đỏ đã bị bể.

Bà Lê Thị R (mẹ bị can Võ Tấn C) giao nộp:

  • - 01 xe gắn máy nhãn hiệu FERROLI, số máy: MB026073, số khung: M8XB26073, màu đỏ đen bạc, biển số 71FL-8419.
  • - 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 003589, tên chủ xe: Lê Thị R, biển số đăng ký 71FL-8419, nhãn hiệu FERROLI, loại xe: 02 bánh, dung tích: 49cc, màu sơn: đỏ-bạc-đen, số máy: MB026073, số khung: M8XB26073.

Thu giữ dữ liệu điện tử camera tại hiện trường: Được trích xuất từ camera an ninh do Công an xã H quản lý, vị trí camera tại lộ bê tông liên ấp H - Đ thuộc ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre, gồm: 01 đĩa DVD nhãn hiệu GUANGZHOU, loại DVD-R, 4.7GB 16X, được niêm phong có chứa file video tên “1_03_R_20230404224231.mp4" dung lượng 48 MB, thời lượng 04 phút 55 giây, thời gian từ 22 giờ 42 phút 35 giây ngày 04/4/2023 đến 22 giờ 57 phút 07 giây ngày 04/4/2023.

Lê Văn H giao nộp 01 đĩa DVD nhãn hiệu GUANGZHOU, loại DVD -R,4.7GB16X,c file video tên “20230405013919779_6L07E92PAZ50814_L_73_L090405013919.mp4" dung lượng 9.12 MB, thời lượng 01 phút 11 giây, thời gian từ 22 giờ 45 phút 42 giây ngày 04/4/2023 đến 22 giờ 46 phút 53 giây ngày 04/4/2023 là dữ liệu camera được trích xuất từ camera cá nhân tại nhà của H.

Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm vật chứng vụ án nhưng không tìm được con dao tự chế và con dao xếp C dùng để chém và đâm Phan Trần T1.

* Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 170-23/KLTTCT-TTPYBT ngày 18/5/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận:

Dấu hiệu chính qua giám định:

  • - Sẹo trán đỉnh thái dương trái chữ Y kích thước trung bình;
  • - Sẹo đỉnh thái dương trái kích thước nhỏ;
  • - Sẹo ngực trái kích thước trung bình;
  • - Sẹo đường giữa bụng (trên dưới rốn) kích thước trung bình;
  • - Sẹo dẫn lưu hông trái kích thước trung bình;
  • - Khuyết sọ trán đỉnh thái dương trái kích thước 10cm x 06cm đáy phập phồng;
  • - Ô tổn thương não đường kính khoảng 04cm;
  • - Máu tụ dưới màng cứng vùng trán trái đã điều trị không có di chứng thần kinh;
  • - Vỡ xoang trán trái;
  • - Tổn thương màn phổi gây tràn dịch màng phổi di chứng dày dính màng phổi trái, dải xơ xẹp thùy trên và thùy dưới phổi trái;
  • - Thủng dạ dày đã xử trí không gây biến dạng dạ dày;
  • - Tổn thương cơ hoành, không phải can thiệp phẫu thuật, không có biến chứng.
  • - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Trần T1 tại thời điểm giám định là 76%.

Cơ chế hình thành thương tích: Do vật sắc nhọn gây ra.

Trường hợp nếu anh T1 không được cấp cứu kịp thời thì có thể dẫn đến tử vong.

* Tại Bản kết luận giám định số: 216/KLTTCT-C09B ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc giám định lại cơ chế hình thành thương tích của bị hại Phan Trần T1 kết luận như sau:

  • - Thương tích vùng ngực trái của ông Phan Trần T1 có đặc điểm phù hợp do vật sắc nhọn tác động gây ra.
  • - Không có mẫu vật gửi giám định, chỉ có con dao qua mô tả, hình vẽ, không có cơ sở trả lời nội dung yêu cầu giám định.

* Tại Bản kết luận giám định số: 903/2023/KL-KTHS ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B đối với dữ liệu điện tử là file ghi hình camera tại hiện trường kết luận như sau:

  • - Diễn biến nội dung hình ảnh của tập tin video gửi giám định (ký hiệu A) không liên tục theo hiển thị góc trái phía trên của màn hình quan sát (có nêu cụ thể tại kết luận giám định). Các nội dung hình ảnh còn lại không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa.
  • - Qua giám định nội dung hình ảnh trong tập tin video (ký hiệu A) theo hiển thị của màn hình quan sát từ “2023-04-04 22:46:16” đến “2023-04-04 22:47:25”: Mô tả đặc điểm, động tác và vật dụng mang theo của từng người được thể hiện trong bản ảnh kèm theo kết luận giám định gồm 04 (bốn) trang giấy A4.

* Theo nội dung Công văn số 08/KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B giải thích cho Bản kết luận giám định số: 903/2023/KL-KTHS ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B:

- Trường hợp diễn biến nội dung hình ảnh trong tập tin video không liên tục có nhiều nguyên nhân như: Do tác động của con người, do lỗi kỹ thuật (đường truyền tín hiệu, quá trình lưu và xuất dữ liệu,...), do đó nếu trường hợp không có tác động của con người thì vẫn có nhiều nguyên nhân khác xảy ra trường hợp nêu trên.

- Tại mục V trong kết luận giám định số 903/2023/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K có nêu “Diễn biến nội dung hình ảnh của tập tin video gửi giám định (ký hiệu A) không liên tục theo hiển thị góc trái phía trên của màn hình quan sát”, không đủ cơ sở xác định là do nguyên nhân gì.

* Tại Bản Kết luận giám định số 827/KL-VPYTW ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B đối với tình trạng tâm thần của Võ Tấn C:

- Về y học:

+ Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị Rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng rượu (F10.71-ICD.10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

+ Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Quá trình điều tra, Võ Tấn C liên tục thay đổi lời khai, ban đầu thừa nhận có dùng dao chém gây thương tích cho bị hại T1 ở vùng đầu và vùng hông, sau đó chỉ thừa nhận có dùng dao gây thương tích cho bị hại T1 ở vùng đầu và hiện tại C cho rằng thương tích vùng đầu của bị hại T1 do bị hại tự gây ra và không thừa nhận dùng dao xếp đâm vào vùng ngực của bị hại T1. Tuy nhiên, trên cơ sở các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ xác định Võ Tấn C có hành vi dùng dao tự chế và dao xếp chém và đâm bị hại Phan Trần T1 gây thương tích như trên.

Bị hại Phan Trần T1 yêu cầu bồi thường tổng cộng 400.220.683 đồng gồm: chi phí điều trị tại bệnh viện N: 2.022.863 đồng; chi phí điều trị tại bệnh viện C1: 37.981.751 đồng; chi phí điều trị tại bệnh viện phục hồi chức năng: 14.236.069 đồng; chi phí điều trị tại bệnh viện M1: 3.255.000 đồng; tiền thuê xe cấp cấp cứu và tái khám: 7.000.000 đồng; tiền thuốc: 650.000 đồng; tã lót và dụng cụ rửa vết thương: 5.000.000 đồng; tiền ăn 54 ngày: 10.800.000 đồng; tổn thất ngày công lao động 11 tháng: 165.000.000 đồng; tổn thất ngày công lao động của 03 người nuôi bệnh 24 ngày: 36.000.000 đồng; tiền châm cứu: 15.600.000 đồng; tiền thuốc bổ não: 12.675.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương tối thiểu: 90.000.000 đồng nhưng bị can Võ Tấn C không đồng ý bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số: 28/CT-VKS-P1 ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre truy tố Võ Tấn C về “Tội giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bị cáo trình bày lời khai: Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội danh “Giết người” là bị cáo không đồng ý. Bị cáo chạy xe ngang nhà ông Lê Văn H bị con chó rượt cắn, bị cáo về nhà lấy con dao quay lại chém con chó nhưng không được. Ông H hỏi bị cáo “mày tính chơi tao ha gì”, bị cáo mới dùng dao chém ông H, ông H dùng ghế nhựa đỡ nên trúng ghế, bị cáo tiếp tục dùng dao đập ông H thì ông H dùng cái bàn nhựa đỡ. Bị cáo quay ra cự cãi với bà Hồ Thị Ngọc G1, bị cáo đi ra lộ, ông H đuổi theo dùng cây tuýp sắt đánh bị cáo. Lúc đó ông Phan Trần Thanh M xuống dùng dao chém bị cáo không trúng nên chĩa dao về hướng bị cáo trúng phần chân bị cáo, bị cáo vạt qua phía ông H thì ông H dùng tuýp sắt đánh bị cáo, bị cáo dùng dao đỡ tuýp sắt của ông H, ông H dùng tuýp sắt có mũi nhọn đâm trúng phần đùi của bị cáo, bị cáo vạt qua trái bị ông T1 chém xéo về hướng cổ hoặc hướng vai nên bị cáo dùng dao đỡ, bị cáo bị rớt dao, ông T1 chém tiếp nhưng bị cáo chụp được dao của ông T1 rồi bỏ chạy. Khi bị cáo chạy ra gặp ông H, bị cáo móc trong túi quần ra giàn ná thun bắn ông H nhưng không trúng mà giàn ná thun trúng tay bị cáo. Ông H chụp tay bị cáo nói “anh em có gì cho tao xin lỗi”, bị cáo nói “buông tay ra có gì nói chuyện”, bị cáo với ông H ôm vật nhau, sau đó hai người buông ra. Bị cáo lấy dao lên xe về, bà G1 và ông H đưa ông T1 đi cấp cứu. Bị cáo thừa nhận chỉ tiếp sức gây ra thương tích cho ông T1, cụ thể khi ông T1 cầm dao giơ lên, bị cáo dùng tay cầm dao của ông T1 kéo xuống, đã tiếp sức gây thương tích cho ông T1 vết thương ở vùng đầu. Bị cáo không có dùng dao tự chế chém vào vùng đầu của ông T1, không có dùng dao xếp đâm vào vùng ngực của ông T1. Bị cáo chỉ nhớ đem theo 01 con dao dài 70cm và 01 giàn ná thun chứ không phải con dao xếp. Bị cáo không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông T1. Bị cáo không đồng ý với Bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo thừa nhận khi xảy ra đánh nhau chỉ có 03 người; ông H và ông T1 cùng nhau đánh bị cáo, nên thương tích của ông T1 không phải do ông H gây ra.

- Bị hại Phan Trần T1 trình bày lời khai: Khoảng 23 giờ ngày 04/4/2023, khi ông đang nhậu cùng ông Lê Văn H tại nhà ông H thì Võ Tấn C chạy xe máy đi ngang qua. C bị con chó nhà H rượt theo, C ngừng xe lại và nói với H nội dung không nhốt con chó lại để con chó rượt C, C nói sẽ đem mã tấu lại chém con chó. C chạy đi khoảng 10 phút sau quay lại cầm dao tự chế chém con chó của H nhưng chém không trúng, rồi đi thẳng vào bàn nhậu nơi H và ông đang ngồi chém H mấy cái. H né và cầm cái bàn, ghế đưa lên đỡ nên không trúng. Ông và H bỏ chạy vào nhà. C cầm dao tự chế ra cửa cự cãi với bà Hồ Thị Ngọc G1 là vợ H. H đưa cho ông một con dao dài khoảng 70cm, còn H cầm ống tuýp sắt dài khoảng 01m để tấn công lại C nhằm tự vệ, C thụt lùi từ sân nhà H ra đường H dựng xe. Ông và H trong tư thế đối mặt với C. H phía bên tay phải C, ông bên tay trái C. H cầm ống tuýp sắt đánh C, ông cầm dao chém C. C vừa lùi vừa vung dao tự chế lên chém lại. Lúc này C chủ động nhào tới cầm dao tự chế chém ngang từ phải sang trái về phía ông. Ông cũng cầm dao tự chế chém về phía C, tuy nhiên C thì chém trúng vào vùng đầu bên trái của ông còn ông chém không trúng C. Sau khi bị chém trúng ông té gục xuống đường, C đâm ông lúc nào ông không nhớ do khi bị chém ông đã bị gục, ông khẳng định vết thương trên đầu và vết thương ở hông là do C gây ra. Ông yêu cầu xử lý nghiêm bị cáo C theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án sơ hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 30/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre quyết định:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Võ Tấn C phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Võ Tấn C 14 (mười bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2023.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và thi hành bản án.

Ngày 09 tháng 6 năm 2024, bị cáo Võ Tấn C kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại toàn bộ vụ án, thừa nhận thương tích của bị hại do bị cáo gây ra, nhưng bị cáo không giết người, bị cáo chỉ tự vệ.

Luật sư bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh, nhưng cho rằng bị hại có một phần lỗi, có thời gian xử lý vụ việc khác đi. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Khẳng định bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Tấn C về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Võ Tấn C. Xem xét đến lời bào chữa của luật sư bào chưa cho bị cáo xem xét tình tiết bị hại cũng có một phần lỗi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong hạn luật định, về hình thức được xem là hợp lệ.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Võ Tấn C liên tục thay đổi lời khai; từ việc thừa nhận có dùng dao chém gây thương tích cho bị hại T1 ở vùng đầu và vùng hông, sau đó chỉ thừa nhận có dùng dao gây thương tích cho bị hại T1 ở vùng đầu, lúc thì cho rằng thương tích vùng đầu của bị hại T1 do bị hại tự gây ra và không thừa nhận dùng dao xếp đâm vào vùng ngực của bị hại T1. Bị cáo cho rằng chỉ tiếp sức gây ra thương tích cho bị hại T1, cụ thể: khi bị hại T1 cầm dao giơ lên, bị cáo dùng tay cầm dao của bị hại T1 kéo xuống, đã tiếp sức gây thương tích cho bị hại T1 vết thương ở vùng đầu; khi xảy ra đánh nhau chỉ có 03 người, ông H và bị hại T1 cùng nhau đánh bị cáo nên thương tích của bị hại T1 không phải do ông H gây ra.

[2.2] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng: Trong quá trình điều tra bị cáo C thừa nhận khi đến nhà H thì bị cáo có đem theo 01 con dao tự chế dài khoảng 70cm bằng kim loại, mũi bằng và 01 con con dao xếp, cán bằng nhựa, lưỡi bằng thép, mũi nhọn, dài khoảng 20cm, bị cáo sử dụng 02 con dao này đánh nhau với H và T1. Bị cáo C chém trúng bị hại T1 gây thương tích ở vùng đầu và vùng hông, sau khi gây thương tích cho T1 bị cáo vứt bỏ 02 con dao này ở cầu S (cầu B) (bl: 290, 291, 293, 294, 299, 300, 303, 303, 308). Sau khi được cơ quan điều tra cho xem đoạn video lưu trữ trong 01 đĩa DVD, nhãn hiệu GUANGZHOU, loại DVD-R, 4.7GB 16X, có chứa file video tên “1-03-R-20230404224231.mp4", dung lượng 48MB, thời lượng 04 phút 55 giây, thời gian từ 22 giờ 42 phút 35 giây ngày 04/4/2023 đến 22 giờ 57 phút 07 giây ngày 04/4/2023, bị cáo thừa nhận có sử dụng 01 con dao tự chế và 01 con dao xếp để đánh nhau với H và T1 (bl: 106, 107). Tại Biên bản xác minh về việc truy tìm hung khí gây án ngày 05/4/2023 (bl 97) và ngày 19/4/2023, (bl 99) bị cáo trình bày đã vứt bỏ 01 con dao tự chế và 01 con dao xếp xuống sông C, Cơ quan điều tra đã đưa bị cáo đến sông C 02 con dao nêu trên nhưng không tìm được. Tại Biên bản thực nghiệm điều tra, bị cáo C thừa nhận có sử dụng con dao tự chế chém 01 cái trúng phần đầu bên trái của T1 làm T1 gục xuống đường bê tông; khi bị cáo dùng tay phải lấy con dao xếp trong túi quần bên trái và chuyển cầm dao bằng tay phải thì H lao đến chụp tay cầm dao của bị cáo và hai bên giằng co; bị cáo cho rằng chỉ đồng ý thực nghiệm điều tra theo lời khai này (bl 235). Ngược lại bị hại T1 khẳng định bị cáo cầm dao tự chế chém ngang từ phải sang trái về phía bị hại, bị hại cũng cầm dao tự chế bằng tay trái chém về phía bị cáo; tuy nhiên bị cáo thì chém trúng vào vùng đầu bên trái của bị hại, còn bị hại chém không trúng bị cáo; sau khi bị chém trúng bị hại té gục xuống đường, bị cáo đâm bị hại lúc nào không nhớ do khi bị chém bị hại đã bị gục. Trong suốt quá trình điều tra; người làm chứng Lê Văn H khẳng định bị cáo C sử dụng 01 con dao tự chế để chém bị hại T1 và 01 con dao xếp để đâm bị hại T1, bị cáo chém trúng vào vùng đầu bên trái của bị hại T1, sau khi bị chém bị hại T1 quỵ xuống, bị cáo giơ dao tự chế bằng hai tay lên cao định chém bị hại T1 nữa, ông cầm ống tuýp sắt đánh trúng tay phải của bị cáo làm rớt con dao tự chế và rớt luôn ống tuýp sắt, bị cáo lấy trong người ra con dao ngắn cầm bằng tay phải đâm bị hại T1 vào vùng ngực bên trái khiến bị hại T1 té xuống đường; sau khi bị hại T1 té thì bị cáo quay qua đâm ông nhưng bị ông chụp dao, bị cáo và ông giằng co một lúc thì cả hai buông ra. Người làm chứng Hồ Thị Ngọc G1 khẳng định bị cáo chém H và T1 bằng con dao do bị cáo mang đến, con dao này dài khoảng 01 mét; khi H với bị cáo giằng co ở mé mương thì H với bị cáo cùng nắm con dao ngắn, con dao này dài khoảng 01 gang tay (bl: 686, 689). Người làm chứng Huỳnh Văn D khẳng định nghe bị cáo nói với H “Tao đâm anh mày rồi” (bl: 743, 744, 747). Người làm chứng Phạm Tấn H1 khẳng định có hỏi bị cáo C “Vụ gì dữ vậy” thì bị cáo C trả lời “Hai thằng đó chém con, con chém lại”.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 170-23/KLTTCT-TTPYBT ngày 18/5/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Trần T1 tại thời điểm giám định là 76%; cơ chế hình thành thương tích do vật sắc nhọn gây ra; trường hợp nếu ông T1 không được cấp cứu kịp thời thì có thể dẫn đến tử vong.

Bản kết luận giám định số: 216/KLTTCT-C09B ngày 18/01/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc giám định lại cơ chế hình thành thương tích của bị hại Phan Trần T1 kết luận thương tích vùng ngực trái của ông Phan Trần T1 có đặc điểm phù hợp do vật sắc nhọn tác động gây ra.

Lời khai của bị cáo Võ Tấn C cho rằng chỉ nhớ có đem theo 01 con dao dài 70cm và 01 giàn ná thun chứ không phải con dao xếp (bl 318); lời khai này của bị cáo mâu thuẫn với lời khai của bị hại, ông H, bà G1. Công an xã H và các Điều tra viên của Công an huyện C, tỉnh Bến Tre đều khẳng định không có thu giữ giàn ná thun nào của bị cáo, khi tạm giữ xe mô tô biển số 71FL - 8419 của bị cáo cũng không thấy giàn ná thun nào trên xe, những lời khai ban đầu của bị cáo vào các ngày 05 và 06/4/2023 thì bị cáo cũng không trình bày gì đến giàn ná thun mà bị cáo mang đến hiện trường và dùng giàn ná thun để đánh ông H, quá trình thi hành Lệnh bắt bị cáo để tạm giam cũng không thu giữ tài sản, đồ vật gì của bị cáo;

[2.3] Từ những chứng cứ nêu trên, cấp sơ thẩm quy kết bị cáo C đã dùng dao tự chế chém bị hại T1 vào vùng trọng yếu trên cơ thể của ông Phan Trần T1 gây tổn thương cơ thể cho ông T1 là 76%, nếu ông T1 không được cấp cứu kịp thời thì có thể dẫn đến tử vong. Bị cáo phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.4] Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét đến các tình tiết:

Theo Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số: 827/KL-VPYTW ngày 13/11/2023 của V đối với bị cáo - Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay bị cáo bị Rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng rượu (F10.71-ICD.10). - Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Bị cáo Võ Tấn C không có tiền án, tiền sự, về nhân thân: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 87/QĐ-XPHC ngày 11/12/2007 của Trưởng Công an xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre xử phạt số tiền 100.000 đồng về hành vi không trình chứng minh nhân dân khi lực lượng kiểm tra (đương sự có mang theo 03 dao Thái Lan nhọn), đã nộp phạt ngày 11/12/2007; tại Quyết định số: 7411/QĐ-UB-NC ngày 17/10/2005 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) tỉnh Bến Tre đưa vào Trường G2 thời hạn 24 tháng về hành vi vi phạm pháp luật trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 01/6/2007; tại Bản án số: 145/2008/HSPT ngày 23/9/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 02 năm tù về “Tội hủy hoại tài sản”, chấp hành xong ngày 22/02/2010; tại Bản án số: 07/2013/HSPT ngày 17/01/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 05 năm tù về “Tội cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 03/02/2016; điều đó đã minh chứng bị cáo có nhân thân không tốt, là người có thái độ xem thường pháp luật, khó cải tạo; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; gia đình bị cáo có người thân là người có công với đất nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; mặc khác hậu quả chết người chưa xảy ra, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên áp dụng Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[2.5] Tuy nhiên bị hại cũng có cách xử sự khác để tránh đối đầu với bị cáo nên chấp nhận lời bào chữa của luật sư cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi để áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[2.6] Về trách nhiệm dân sự: Cấp sơ thẩm xem xét đúng, đủ các chi phí để buộc bị cáo C bồi thường cho bị hại T1, các khoản như sau:

  • - Đối với chi phí điều trị tại bệnh viện N là 2.022.863 đồng. Xét thấy tại Bảng kê chi phí khám bệnh ngày 05/4/2023 thì Bảo hiểm y tế đã thanh toán số tiền 1.494.080 đồng; người bệnh trả số tiền 373.520 đồng + 155.263 đồng = 528.783 đồng; nên được chấp nhận số tiền 528.783 đồng.
  • - Đối với chi phí điều trị tại bệnh viện C1 là 37.981.751 đồng. Xét thấy bị hại cung cấp được chứng cứ chứng minh nên chấp nhận 37.981.751 đồng.
  • - Đối với chi phí điều trị tại bệnh viện P là 14.236.069 đồng. Xét thấy tại Bảng kê chi phí điều trị nội trú dịch vụ ngày 28/4/2023 thì Bảo hiểm y tế đã thanh toán số tiền 6.675.600 đồng; người bệnh trả số tiền 7.809.194 đồng + 907.000 đồng + 985.500 đồng = 9.701.694 đồng, nên được chấp nhận số tiền 9.701.694 đồng.
  • - Đối với chi phí điều trị tại bệnh viện M1 là 3.255.000 đồng. Xét thấy bị hại cung cấp được chứng cứ chứng minh nên chấp nhận 3.255.000 đồng.
  • - Đối với tiền thuê xe cấp cứu và tái khám là 7.000.000 đồng. Xét thấy bị hại cung cấp được chứng cứ chứng minh nên chấp nhận 7.000.000 đồng.
  • - Đối với tiền ăn trong thời gian chữa bệnh và bồi dưỡng để phục hồi sức khỏe của bị hại là 54 ngày x 200.000 đồng/ngày = 10.800.000 đồng. Xét thấy bị hại điều trị nội trú từ ngày 04/4/2023 đến ngày 28/4/2023 là 25 ngày. Căn cứ Nghị định số: 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 của Chính phủ và Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho bị hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án; lương tối thiểu vùng tại Thành phố Hồ Chí Minh thời điểm tháng 4/2023 là 4.680.000 đồng/tháng, nên được chấp nhận số tiền 4.680.000 đồng/26 ngày x 25 ngày = 4.500.000 đồng.
  • - Đối với tổn thất ngày công lao động của bị hại 11 tháng là 165.000.000 đồng. Xét thấy bị hại điều trị nội trú từ ngày 04/4/2023 đến ngày 28/4/2023 là 25 ngày. Căn cứ Nghị định số: 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 của Chính phủ và Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì tiền công lao động của bị hại bị tổn thất được tính theo lương tối thiểu vùng tại Thành phố Hồ Chí Minh thời điểm tháng 4/2023 là 4.680.000 đồng/tháng, nên được chấp nhận số tiền 4.680.000 đồng/26 ngày x 25 ngày = 4.500.000 đồng.
  • - Đối với tổn thất ngày công lao động của 03 người nuôi bệnh 24 ngày = 36.000.000 đồng. Xét thấy bị hại điều trị nội trú từ ngày 04/4/2023 đến ngày 28/4/2023 là 25 ngày, vì vậy chấp nhận thời gian nuôi bệnh là 25 ngày và chỉ chấp nhận cho 01 người nuôi bệnh. Căn cứ Nghị định số: 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 của Chính phủ và Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì tiền công lao động của 01 người nuôi bệnh bị tổn thất được tính theo lương tối thiểu vùng tại tỉnh Bến Tre thời điểm tháng 4/2023 là 4.160.000 đồng/tháng, nên được chấp nhận số tiền 4.160.000 đồng/26 ngày x 25 ngày = 4.000.000 đồng.
  • - Đối với tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương tối thiểu = 90.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tổng cộng chấp nhận số tiền: 161.467.228 đồng, các khoản khác chưa đủ chứng cứ chứng minh nên không xem xét. Bị hại T1 đồng ý với số tiền 161.467.228 đồng và yêu cầu bị cáo phải bồi thường; các khoản còn lại bị hại tự nguyện rút lại yêu cầu và khi nào có đủ chứng cứ chứng minh sẽ khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

[3] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Võ Tấn C, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Võ Tấn C phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Võ Tấn C 13 (mười ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 590 của Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Võ Tấn C phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Phan Trần T1 số tiền 161.467.228 (một trăm sáu mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm hai mươi tám) đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  • - Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Võ Tấn C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  • - Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Võ Tấn C phải nộp 8.073.361 (tám triệu không trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm sáu mươi mốt) đồng.
  • - Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo không phải nộp.

4. Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND tỉnh Bến Tre; (3)
  • - VKSND tỉnh Bến Tre; (1)
  • - Công an tỉnh Bến Tre; (1)
  • - Cục THA DS tỉnh Bến Tre; (1)
  • - TTG Công an tỉnh tỉnh Bến Tre ; (1)
  • - “Để tống đạt cho bị cáo”; (2)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (3). VP 05, 18b. (TTPT).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trí Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 926/2024/HS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tội giết người)

  • Số bản án: 926/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Võ Tấn C phạm tội “Giết người”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Võ Tấn C, Sửa bản án sơ thẩm giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger