Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Bản án số: 925/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24 tháng 5 năm 2024

V/v Tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Thức

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bính Thân

Bà Nguyễn Thị Nhơn

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Xuân Trường - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 5 năm 2024 Tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 2073/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp Ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/4/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 150/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/4/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Chu Thị N năm 1992

Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước

Bị đơn: Ông Vũ Thế M năm 1981

Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương.

Nơi làm việc: 221 X, phường A, quận B, TP . Hồ Chí Minh.

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 15 tháng 11 năm 2023 Toà án nhân dân quận Bình Thạnh thụ lý vụ án dân sự về tranh chấp ly hôn, do nguyên đơn bà Chu Thị N1 khởi kiện đối với bị đơn ông Vũ Thế M1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn bà Chu Thị N1 trình bày:

Bà Chu Thị N1 và ông Vũ Thế M1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, theo giấy chứng nhận kết hôn số 80, đăng ký ngày 16/11/2020.

Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân ông Vũ Thế M thường ghen tuông thái quá, tính tình gia trưởng nên không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, đã nhiều lần vợ chồng hòa giải nhưng không có kết quả.

Do mâu thuẫn không thể hàn gắn nên từ ngày 01/01/2023 đến nay bà N1 và ông M1 bắt đầu sống ly thân mỗi người mỗi nơi không còn quan tâm chăm sóc gì cho nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Do đó, bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giải quyết ly hôn và đã được Tòa án thụ lý số: 55/2023/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2023. Sau đó bà Chu Thị N1 làm đơn rút đơn khởi kiện và đã được Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đình chỉ vụ án, theo quyết định số: 24/2023/QĐ-TA ngày 14/3/2023.

Ngày 06 tháng 11 năm 2023 bà Chu Thị N1 tiếp tục làm đơn khởi kiện ông Vũ Thế M1 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu giải quyết những vấn đề sau đây:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Chu Thị N1 yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Thế M1
  • - Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung là Vũ Chu Khánh V, sinh ngày 01/4/2021. Kể từ ngày bà N1 và ông M1 sống ly thân, con chung do một mình bà trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, do đó nay bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng vì là con gái, con còn rất nhỏ, hiện nay cháu đang có cuộc sống ổn định với mẹ. Về cấp dưỡng nuôi con bà N1 xác định tự thỏa thuận với ông M1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, trường hợp không thỏa thuận được thì đề nghị Tòa án giải quyết sau.
  • - Về tài sản chung: Bà Chu Thị N1 xác định tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra bà không có ý kiến trình bày nào khác.

Tại các bản tự khai ngày 08/12/2023 ông Vũ Thế M1 trình bày:

Ông Vũ Thế M1 và bà Chu Thị N1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phướng, theo giấy chứng nhận kết hôn số 80, đăng ký ngày 16/11/2020.

Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn: Ông Vũ Thế M1 cho rằng không rõ nguyên nhân, nay tình cảm giữa hai bên đã có dấu hiệu rạn nứt, ông chưa rõ nguyên nhân, nên ông cần thời gian suy nghĩ và quyết định sau. Hiên nay giữa ông và bà N1 không còn chung sống cùng một địa chỉ, mỗi người mỗi nơi từ khoảng tháng 8/2023 cho đến nay.

Quá trình chung sống có 01 con chung tên là Vũ Chu Khánh V, sinh ngày 01/4/2021. Hiên nay con đang ở với bà N1, do bà N1 chăm sóc và nuôi dưỡng, hàng tháng ông cấp dưỡng nuôi con đầy đủ, có tháng ông cấp dưỡng 5.000.000 đồng, có tháng ông cấp dưỡng 10.000.000 đồng. Nay ông M1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, ông không yêu cầu bà N1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông Vũ Thế M1 xác định tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra ông Vũ Thế M1 trình bày: Hiện nay ông đang làm việc tại Công ty T có trụ sở tại số B đường X, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, nên ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, theo sự lựa chọn thẩm quyền của nguyên đơn bà Chu Thị N1.

Sự vắng mặt của bị đơn ông Vũ Thế M1: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã mời ông Vũ Thế M1 lên Tòa làm việc, đã tống đạt trực tiếp thông báo thụ lý và ông Vũ Thế M1 đã làm bản tự khai đề ngày 08/12/2023 nộp trực tiếp cho Tòa án. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp các thủ tục tố tụng như giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Vũ Thế M1 theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên ông Vũ Thế M1 vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi gì đến Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa sơ thẩm nhận xét:

  1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng:
    • - Việc thụ lý vụ án của Tòa là đúng thẩm quyền. Tòa án ra thông báo thụ lý, thông báo hòa giải, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
    • - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Từ khi thụ lý cho đến thời điểm tiến hành xét xử vụ án Thẩm phán chấp hành đúng các quy định tại các Điều 48, 170, 181, 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự.
    • - Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử:

      Tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

    • - Việc tuân thủ pháp luật của người tham gia tố tụng:

      Đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

      Đối với bị đơn, từ khi thụ lý đến phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn đã không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, mặc dù Tòa án đã triệu tập và niêm yết hợp lệ.

  2. Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện trong

quá trình chung sống giữa bà N1 và ông M1 có nhiều bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Giữa bà N1 và ông M1 sống ly thân kéo dài, không còn quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Do đó yêu cầu ly hôn của bà N1 là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung là trẻ Vũ Chu Khánh V, sinh ngày 01/4/2021. Giao cho bà Chu Thị N1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con bà N1 xác định tự thỏa thuận với ông M1, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: Bà Chu Thị N1 và ông Vũ Thế M1 cùng xác định tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về án phí bà Chu Thị N1 phải đóng án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
  2. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Chu Thị N1 xin ly hôn với ông Vũ Thế M1, bà Chu Thị N1 có đơn lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết và nơi làm việc của bị đơn. Hiện nay bị đơn ông Vũ Thế M1 đang làm việc tại Công ty T có trụ sở tại số B đường X, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Căn cứ khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

    Nguyên đơn bà Chu Thị N1 có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, nên việc Toà án xét xử vắng mặt bà là phù hợp với quy định khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

    Bị đơn ông Vũ Thế M1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên việc Toà án xét xử vắng mặt ông là phù hợp với quy định tại Điều 227 của Bộ luất tố tụng dân sự.

  3. Về nội dung:
  4. Bà Chu Thị N1 và ông Vũ Thế M1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, theo giấy chứng nhận kết hôn số 80, đăng ký ngày 16/11/2020 nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.

    Bà Chu Thị N1 trình bày lý do xin ly hôn với ông Vũ Thế M1 là do ông Vũ Thế Mạnh t ghen tuông thái quá, tính tình gia trưởng nên không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, đã nhiều lần vợ chồng hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn không thể hàn gắn nên từ ngày 01/01/2023 đến nay bà N1 và ông M1 bắt đầu sống ly thân mỗi người mỗi nơi không còn quan tâm chăm sóc gì cho nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó bà Chu Thị N1 yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Vũ Thế M1 để sớm ổn định cuộc sống lo cho con.

    Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh mời ông Vũ Thế M1 lên làm việc, đã tống đạt trực tiếp thông báo thụ lý và ông Vũ Thế M1 đã làm bản tự khai đề ngày 08/12/2023 nộp trực tiếp cho Tòa án. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp các thủ tục tố tụng như giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Vũ Thế M1 theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên ông Vũ Thế M1 vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi, cũng như không cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân với bà bà Chu Thị N1. Do vậy ông Vũ Thế M1 tự tước bỏ quyền trình bày để bảo vệ những yêu cầu của mình tại Tòa án, thể hiện việc không còn quan tâm gì đến cuộc sống hôn nhân giữa ông với bà Chu Thị N1.

    Xét yêu cầu của bà Chu Thị N1 xin ly hôn với ông Vũ Thế M1, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình giải quyết ly hôn tại Tòa án, Tòa án đã thông báo về phiên hòa giải đoàn tụ nhưng bị đơn ông Vũ Thế M1 vắng mặt, nên không hòa giải đoàn tụ được, Tòa án đã nhiều lần phân tích, động viên bà Chu Thị N1 trở về đoàn tụ, cùng nhau xây dựng cuộc sống vợ chồng hạnh phúc với ông Vũ Thế M1. Tuy nhiên bà Chu Thị N1 vẫn cương quyết giữ nguyên ý kiến xin ly hôn với ông Vũ Thế M1 vì tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân giữa bà và ông Vũ Thế M1 đã thực sự trầm trọng không thể hàn gắn được. Do đó việc hòa giải đoàn tụ là không thành.

    Xét thấy, quan hệ hôn nhân hạnh phúc vững bền cần phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, thiện chí của cả hai vợ chồng, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên giữa bà Chu Thị N1 và ông Vũ Thế M1 có nhiều bất hòa trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt không hạnh phúc, cả hai ông bà cũng đã cố gắng hòa giải nhưng không có kết quả, dẫn đến việc ông bà sống ly thân mỗi người mỗi nơi, không còn quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Bà Chu Thị N1 đã từng làm đơn yêu cầu ly hôn với ông Vũ Thế M1 ra Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, sau đó rút đơn khởi kiện. Lần khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh thể hiện ý chí quyết tâm của bà Chu Thị N1 xin ly hôn với ông Vũ Thế M1, điều này thể hiện mâu thuẫn giữa bà Chu Thị N1 và ông Vũ Thế M1 là trầm trọng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bà Chu Thị N1 yêu cầu ly hôn với ông Vũ Thế M1 là có cơ sở để chấp nhận căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Việc ông Vũ Thế M1 vắng mặt tại Tòa án trong các buổi làm việc, tại phiên Tòa xét xử hôm nay vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án không thể ghi nhận được ý kiến và nguyện vọng của ông về thực hiện các quyền và nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục con chung là trẻ Vũ Chu Khánh V, sinh ngày 01/4/2021. Nguyên đơn bà Chu Thị N1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung trẻ Vũ Chu Khánh V, sinh ngày 01/4/2021. Hiện trẻ Khánh V còn nhỏ tuổi, là con gái, đang sống ổn định với bà N1, để không làm xáo trộn cuộc sống của các trẻ. Do đó việc bà Chu Thị N1 yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là có cơ sở để chấp nhận, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con bà N1 xác định tự thỏa thuận với ông M1, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Bà Chu Thị N1 và ông Vũ Thế M1 cùng xác định tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí, Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Chu Thị N1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 40, 147, 228, 266, 271, 273, 278, 280, 482 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 59 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Luật Thi hành án dân sự,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Chu Thị N1
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Chu Thị N1 được ly hôn với ông Vũ Thế M1
    • - Về con chung: Giao cho bà Chu Thị N1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung tên Vũ Chu Khánh V, sinh ngày 01/4/2021 (Theo giấy khai sinh số 104 do UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước cấp ngày 23/4/2021). Về cấp dưỡng cho con, bà Chu Thị N1 xác định tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

    Ông Vũ Thế M1 có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

  2. Về tài sản: Bà Chu Thị N1 và ông Vũ Thế M1 cùng xác định tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Chu Thị N1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0028879 ngày 15/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Chu Thị N1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Bình Thạnh (2);
  • - Chi cục THADS quận Bình Thạnh;
  • - UBND xã Tân Lập, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước;
  • - Lưu VP, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Thức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 925/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 925/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger