|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 925/2024/DS-PT Ngày: 13/11/2024 V/v tranh chấp ranh bất động sản liền kề và yêu cầu bồi thường thiệt hại |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Bùi Thị Kim Dung |
| Các Thẩm phán: | Bà Đặng Huyền Phương |
| Ông Lê Ngọc Tường |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Tào Minh Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 684/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ranh bất động sản liền kề và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 525/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5340/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 10 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: Bà Lê Hồng Linh K, sinh năm 1975.
Địa chỉ: 1 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
1/ Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1971. (Có mặt)
Địa chỉ: 5 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 011658 ngày 16/10/2024 tại Văn phòng C1).
2/ Ông Đinh T, sinh năm 1980. (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: KQH Dân cư Phía B, H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
(Theo Giấy ủy quyền số công chứng 0000934 ngày 09/3/2024 tại Văn phòng C2).
Bị đơn: Ông Đỗ Giao T1, sinh năm 1976. (Có mặt)
Địa chỉ liên lạc: 4 B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Thành T2, sinh năm 1990.
2. Bà Bồ Kim V, sinh năm 1987.
Cùng địa chỉ 1 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Thành T2 và bà Bồ Kim V:
Ông Đỗ Giao T1, sinh năm 1976. (Có mặt)
Địa chỉ liên lạc: 4 B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số công chứng 000915 ngày 20/02/2024 tại Văn phòng C3).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Hồng Linh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Hồng Linh K và người đại diện theo ủy quyền của bà K trình bày:
Bà Lê Hồng Linh K là chủ sở hữu nhà đất số A T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nhà 11/8) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CH02052 ngày 15/9/2014 do Ủy ban nhân dân quận T cấp, cập nhật chuyển nhượng cho bà K ngày 27/4/2017.
Tiếp giáp ranh liền kề là nhà số A T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nhà 11/6A) do ông Đỗ Giao T1 là chủ sở hữu theo Giấy chứng nhận dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CS00148 ngày 22/10/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp.
Ngày 31/8/2020, nhà số A T do ông T1 làm chủ sở hữu được Ủy ban nhân dân quận T cấp giấy phép xây dựng số 20.1029/GPXD và tiến hành xây dựng. Ngày 15/9/2020, trong quá trình xây dựng, ông T1 khi tiến hành xây dựng đổ tấm các tầng trên đã đập và lấn ranh bờ tường của nhà 11/8 có cạnh tiếp giáp ranh cạnh liền kề hình chữ L nằm phía sau và cạnh phía bên trái tính từ nhà 11/8 nhìn ra ngoài đường có cạnh chiều ngang 3,75m và dài 3,1m tiếp giáp lối đi vào nhà 11/6A và đập bờ tường tiếp giáp hình chữ L giữa hai nhà 11/8 và 11/6A. Sau khi phát hiện việc xâm phạm đập bức tường và lấn chiếm đất của ông T1 trên phần đất thuộc chủ quyền của mình, bà K đã phản ánh lên Ủy ban nhân dân Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 24/9/2020 tại nhà 11/6A, đại diện Ủy ban nhân dân Phường A, quận T lập biên bản làm việc ghi nhận ông T1 tháo dỡ toàn bộ nhà cũ và phần bờ tường tiếp giáp giữa hai nhà 11/8 và A theo thông tin phản ánh của chủ nhà số A. Ủy ban nhân dân phường sẽ tiến hành trích lục toàn bộ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai nhà để kiểm tra. Đồng thời Ủy ban nhân dân phườnA đề nghị ông T1 không thi công phần móng sát ranh giới đất nhà 11/8 để giữ nguyên hiện trạng phần tường tiếp giáp cho tổ công tác kiểm tra đối chiếu lại hồ sơ gốc của cả hai nhà tại đoạn 1,8m theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS00148 cấp ngày 22/10/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.
Ngày 28/10/2020, tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận T, đại diện Ủy ban nhân dân Phường A, quận T đã tổ chức buổi làm việc và lập biên bản làm việc kết luận công trình xây dựng của nhà 1 đã được Ủy ban nhân dân quận T cấp phép xây dựng nên Ủy ban nhân dân phường không có cơ sở để đình chỉ thi công. Việc xác định rõ nguồn gốc và ranh giới đất tiếp giáp giữa hai nhà không thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân phường. Ngoài ra, ông T1 được tiếp tục thi công xây dựng theo giấy phép được cấp. Sau khi Ủy ban nhân dân phườnA đưa ra kết luận và ghi nhận thêm ý kiến của chủ nhà 11/8 không đồng ý với việc đại diện Ủy ban nhân dân Phường A, quận T tiếp tục cho chủ nhà 11/6A được xây dựng. Chủ nhà 11/8 yêu cầu tạm dừng xây dựng để giải quyết xong tranh chấp mới được tiếp tục thi công.
Ngày 03/11/2020 theo công văn số 552/UBND của Ủy ban nhân dân Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh về việc: “Phúc đáp đơn thư phản ánh phần ranh giới đất tiếp giáp giữa 02 nhà 11/8 và A T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh” không thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân phường, đề nghị các bên tranh chấp tiến hành khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp.
Ngày 15/12/2020, bà K chủ nhà 1 T, Phường A, quận T có đơn đề nghị hòa giải gửi đến Ủy ban nhân dân Phường A, quận T để giải quyết tranh chấp đất.
Ngày 22/01/2021, Ủy ban nhân dân Phường A, quận T tiến hành mời các bên liên quan đến hòa giải tranh chấp đất đai giữa bà K và ông T1. Nhưng ông T1 vắng mặt nên đại diện Ủy ban nhân dân Phường A, quận T lập biên bản hòa giải tranh chấp không thành lần 1.
Ngày 28/01/2021 Ủy ban nhân dân Phường A, quận T tiến hành mời các bên liên quan đến hòa giải tranh chấp đất đai giữa bà K và ông T1. Nhưng ông T1 vắng mặt nên đại diện Ủy ban nhân dân Phường A, quận T lập biên bản hòa giải tranh chấp không thành lần 2.
Bà K xác định: Vị trí đất và khoảng không gian trên đất xây dựng bờ tường tranh chấp hình chữ L nằm trong khuôn viên cuối nhà 11/8 có chiều ngang 3,75m và dài 3,1m tiếp giáp lối đi vào nhà 11/6A và đối diện một phần vách tường nhà 11 là tường và đất của bà, cụ thể:
Bờ tường hình chữ L có độ dày 20cm, chiều cao 4m được xây dựng trên phần đất của nhà 11/8 dùng để xác định ranh giới đất của nhà 11/8 thửa đất số 20 với các thửa đất số 22 và 23 của các nhà xung quanh.
Theo tờ bản vẽ thiết kế số 649/2017 kiểm tra ngày 17/7/2017 của nhà A T, Phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện chi tiết bức tường hình chữ L nằm trong thửa đất số 20; tờ bản đồ số 18 (BĐĐC – 2005) với chiều dài là 3,75m được kéo dài tiếp giáp từ thửa đất số 22 sang thửa đất số 23 và phần phía
bên hông tiếp giáp lối đi vào thửa đất số 23 có chiều dài 3,1m và chiều ngang lối đi vào thửa đất số 23 rộng 1,1m.
Điểm lưu ý là phần bờ tường tiếp giáp thửa đất số 20 của nhà 11/8 với lối đi vào thửa đất số 23 của nhà 11/6A có chiều dài 3,1m nằm khớp với chiều dài thửa đất số 20 của nhà 11/8 và chỉ tiếp giáp 1 phần thửa đất số 23 của nhà 11/6A.
Căn cứ theo giấy chứng nhận số CH02052 cấp ngày 15/09/2014 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thể hiện bờ tường tiếp giáp giữa nhà 11/8 và 11/6A thuộc quyền sở hữu của nhà 11/8. Vì lối đi vào nhà 11/6A tính từ bờ tường nhà 11/8 đến bờ tường nhà 11 có chiều ngang 1,1m.
Trước đây nhà A T, Phường A, Quận T, Tp. không có xây tường riêng tiếp giáp với tường nhà 11/8 và nhà A, mà mượn tường các nhà kế bên để sử dụng và có xin được mượn tường các nhà xung quanh để gác cây dựng gác gỗ.
Căn cứ theo giấy chứng nhận số CS00148 cấp ngày 22/10/2016 của Sở T cấp thể hiện rõ phần diện tích nhà 11/6A đúng hiện trạng thực tế ban đầu. Đến ngày 12/01/2017, ông T1 là chủ sở hữu nhà có điều chỉnh thay đổi về phần diện tích đất, nhưng trên thực tế ông T1 không thực hiện bất kì giao dịch bất động sản nào với các nhà tiếp giáp xung quanh để thay đổi diện tích đất. Ông T1 thay đổi diện tích đất bằng cách đo lại đất và tính phần bờ tường hình L của nhà 11/8 vào phần diện tích đất của nhà 11/6A, việc thay đổi này được thể hiện rõ tại lối đi vào nhà 11/6A có chiều ngang 1,1m thay đổi thành 1,15m tính từ tường nhà A sang tường nhà 11/8 sau khi phá bỏ bờ tường tiếp giáp giữa hai nhà thuộc quyền sở hữu của nhà 11/8.
Qua xem xét thực tế tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/6/2024 và xem xét bản đồ đo vẽ áp ranh của Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H thì bà K thấy tại vị trí số 15 (trong Bản đồ đo vẽ) có khoảng trống khoảng 5cm, đã thể hiện nhà số A của ông T1 đã xây lấn qua phần diện tích của nhà 11/8 của bà K là 15cm.
Do đó, nguyên đơn khởi kiện vụ việc tranh chấp đến Tòa án nhân dân quận Tân Bình yêu cầu giải quyết các vấn đề sau:
- - Buộc ông Đỗ Giao T1 là chủ sở hữu hợp pháp của nhà A T, Phường A, quận T phải tiến hành tháo dỡ phần diện tích xây dựng lấn chiếm sang phần đất của nhà A T, Phường A, quận T tại thửa đất số 20; tờ bản đồ số 18 (BĐĐC – 2005) và khoảng không gian trên đất bao gồm tất cả các tầng lầu xây dựng lấn chiếm. Đồng thời ông Đỗ Giao T1 phải xây dựng trả lại hiện trạng phần bờ tường của nhà A T, Phường A, quận T như ban đầu.
- - Yêu cầu ông Đỗ Giao T1 phải xây dựng tường riêng không được sử dụng bờ tường của nhà 1 T, Phường A, quận T.
- - Buộc ông Đỗ Giao T1 phải bồi thường với giá trị đất 150.000.000 đồng/m² để làm cơ sở, mức giá trị đất trên sẽ được điều chỉnh đứng thực tế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể:
- - Giá trị bức tường xây: 50.000.000 đồng.
- - Giá trị đất bị lấn chiếm: ngang + dọc
- + Ngang: 3,75m x 0,2m x 150.000.000 đồng = 112.500.000 đồng.
- + Dọc: 3,1m x 0,2m x 150.000.000 đồng = 93.000.000 đồng.
- - Tổng cộng: 112.500.000 đồng + 93.000.000 đồng = 205.500.000 đồng.
Tổng mức bồi thường thiệt hại là: 255.500.000 đồng.
Ngoài ra, tại buổi hòa giải ngày 04 tháng 7 năm 2024 và tại Đơn khởi kiện bổ sung ngày 25 tháng 7 năm 2024, nguyên đơn có thêm các yêu cầu khởi kiện bổ sung:
- - Buộc ông Đỗ Giao T1 đập bỏ toàn bộ bức tường đã lấn chiếm tại vị trí 15 như trong bản vẽ áp rạnh của Trung tâm đo đạc bản đồ và khôi phục lại bức tường gạch như trạng thái ban đầu.
- - Buộc ông Đỗ Giao T1 “đền bù chi phí như trong đơn khởi kiện” và các chi phí, án phí tố tụng, ứng phí thẩm định hai lần và tiền lãi suất theo quy định pháp luật.
- - Buộc ông Đỗ Giao T1, bà Bồ Kim V “không được giao dịch tài sản, khi tài sản đang tranh chấp” nếu cố tình tiếp tục chuyển nhượng sẽ phải chịu hậu quả pháp lý của pháp luật.
- - Buộc tuyên hủy cấp giấy chứng nhận sổ hồng của Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tại thửa đất số 23, tờ bản đồ 18, địa chỉ số A A T, Phường A, quận T.
- - Tuyên đề nghị Ủy ban nhân dân quận T xử phạt hành chính “hành vi ông T1 đã lấn chiếm đất của người khác”.
- - Đề nghị Tòa án, Viện kiểm sát chuyển hồ sơ sang Cơ quan điều tra công an quận Tân Bình khi ông Toàn có dấu hiệu “cố tình phá hoại tài sản của bà K là một bức tường gạch như trong đơn khởi kiện”.
Bị đơn ông Đỗ Giao T1 trình bày:
Gia đình ông T1 có mua căn nhà tọa lạc tại địa chỉ A T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Trần Văn C và bà Trần Thị L1 đứng tên chủ sở hữu và đã được Văn phòng đăng ký đất đai quận T cập nhật ngày 12/01/2017 theo Giấy chứng nhận dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS00148 ngày 22/10/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.
Gia đình ông T1 chuyển về căn nhà trên ở ổn định từ đó đến nay. Sau một thời gian ở tại đây, thấy nhà xuống cấp nên ông T1 xin phép xây dựng số: 20.1029/GPXD ngày 31/8/2020 do Ủy ban nhân dân quận T cấp. Trong quá trình xây dựng thì nhà ông T1 bị chủ nhà A T, Phường A, quận T là bà Lê Hồng L2 Khánh tranh chấp phần tường tiếp ranh giữa hai nhà (0,1m x 1,8m).
Qua nhiều lần làm việc nhưng giải quyết không thành. Vào lúc 09 giờ ngày 25/10/2020, Ủy ban nhân dân Phường A, quận T lập tổ đo đạc hai căn nhà 11/6A và 1 T, Phường A, quận T. Vào lúc 14 giờ cùng ngày 28/10/2020 thì họp tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận T. Nội dung kết luận là ông được xây dựng theo đúng Giấy phép xây dựng đã được quận T cấp. Sau khi công trình hoàn thành xong thì tổ kiếm tra xuống kiểm tra lần cuối và sau đó đã được thông qua. Ông đã nộp hồ sơ hoàn công lên Ủy ban nhân dân quận T và đã được duyệt, cập nhật vào Giấy chứng nhận ngày 22/4/2021 theo đúng diện tích đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đúng với diện tích xây dựng theo giấy phép xây dựng đã cấp.
Theo thông báo thụ lý vụ án số 140/2021/TB-TLV ngày 10/6/2021 của Ủy ban nhân dân quận T thì những yêu cầu của chủ nhà A T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là không có căn cứ nên ông T1 không chấp nhận những yêu cầu trên, đề nghị Tòa án sớm giải quyết để cuộc sống gia đình ông được bình yên.
Căn nhà 11/6A Trương Công Đ đã được ông T1 bán cho vợ chồng ông Võ Thành T2 và bà Bồ Kim V, ông đã nhận đủ tiền và bàn giao nhà cho ông T2, bà V.
Đối với các yêu cầu khởi kiện và các yêu cầu thêm của nguyên đơn tại buổi hòa giải ngày 04/7/2024 và tại Đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/7/2024 của Nguyên đơn, ông hoàn toàn không đồng ý vì ông xây dựng nhà 11/6A Trương Công Định đúng giấy phép quy định, đúng diện tích đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền cấp, ông không biết và không đập bỏ bức tường riêng của nhà số A thuộc quyền sở hữu của Nguyên đơn như Nguyên đơn trình bày.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Thành T2 và bà Bồ Kim V có ông Đỗ Giao T1 là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà K về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà A T, yêu cầu đập bỏ bức tường tiếp giáp giữa 02 nhà tại vị trí số 15 (trên bản đồ đo vẽ) có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của ông T2 bà V. Ông đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện và yêu cầu khởi kiện bổ sung của bà K.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đinh T trình bày:
Nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung tại Đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/7/2024.
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện ban đầu, cụ thể rút các yêu cầu sau:
- Buộc ông Đỗ Giao T1 là chủ sở hữu hợp pháp của nhà A T, Phường A, quận T phải tiến hành tháo dỡ phần diện tích xây dựng lấn chiếm sang phần đất
của nhà A T, Phường A, quận T tại thửa đất số: 20; tờ bản đồ số: 18 ((BĐĐC – 2005) và khoảng không gian trên đất bao gồm tất cả các tầng lầu xây dựng lấn chiếm. Đồng thời ông Đỗ Giao T1 phải xây dựng trả lại hiện trạng phần bờ tường của nhà A T, Phường A, quận T như ban đầu.
- Yêu cầu ông Đỗ Giao T1 phải xây dựng tường riêng không được sử dụng bờ tường của nhà 1 T, Phường A, quận T.
Nguyên đơn xác định chỉ còn giữ yêu cầu khởi kiện: Buộc ông Đỗ Giao T1 phải bồi thường việc đã đập bỏ bức tường riêng và ranh đất lấn chiếm thuộc quyền sở hữu của Nguyên đơn với giá trị đất 150.000.000 đồng/m² để làm cơ sở, mức giá trị đất trên sẽ được điều chỉnh đứng thực tế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể:
- - Giá trị xây dựng hai bức tường là: 50.000.000 đồng.
- - Giá trị ranh diện tích đất bị lấn chiếm: ngang + dọc
- + Ngang: 3,75m x 0,2m x 150.000.000 đồng = 112.500.000 đồng.
- + Dọc: 3,1m x 0,2m x 150.000.000 đồng = 93.000.000 đồng.
- - Tổng cộng: 112.500.000 đồng + 93.000.000 đồng = 205.500.000 đồng.
Tổng mức bồi thường thiệt bị đơn phải trả là: 255.500.000 đồng. Thời hạn thanh toán: Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Bị đơn ông Đỗ Giao T1: Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông bồi thường số tiền 255.500.000 đồng vì không có căn cứ pháp luật.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Võ Thành T2 và bà Bồ Kim V có đại diện theo ủy quyền là ông Đỗ Giao T1: Thống nhất với ý kiến của Bị đơn, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn vì không có căn cứ pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 525/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã:
Căn cứ khoản 6, khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 244, Điều 147; Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 165; Điều 166; Điều 262, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 166, 170, 174, 175, 176, 246 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 3, 4, 98, 166, 170, 171 và khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Hồng Linh K:
- - Buộc ông Đỗ Giao T1 là chủ sở hữu hợp pháp của nhà A T, Phường A, quận T phải tiến hành tháo dỡ phần diện tích xây dựng lấn chiếm sang phần đất của nhà A T, Phường A, quận T tại thửa đất số: 20; tờ bản đồ số: 18 (BĐĐC – 2005) và khoảng không gian trên đất bao gồm tất cả các tầng lầu xây dựng lấn chiếm. Đồng thời ông Đỗ Giao T1 phải xây dựng trả lại hiện trạng phần bờ tường của nhà A T, Phường A, quận T như ban đầu.
- - Yêu cầu ông Đỗ Giao T1 phải xây dựng tường riêng không được sử dụng bờ tường của nhà 1 T, Phường A, quận T.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Hồng L2 Khánh buộc bị đơn ông Đỗ Giao T1 bồi thường giá trị xây dựng bức tường xây: 50.000.000 đồng và giá trị diện tích ranh đất bị lấn chiếm là 205.500.000 đồng, tổng cộng là 255.500.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau đó, nguyên đơn bà Lê Hồng Linh K kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Lê Hồng Linh K có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Trọng H trình bày:
Bà Lê Hồng Linh K không rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/7/2024, việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bà K đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung để không xem xét giải quyết các yêu cầu này là nhầm lẫn, không đúng sự thật.
Cấp sơ thẩm đã thiếu sót trong việc triệu tập nhân chứng là những người cư ngụ xung quanh để làm rõ thêm tình tiết của vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà K cung cấp một giấy làm chứng của bà Nguyễn Thị T3, là người đã bán căn nhà số A cho bà K, với nội dung xác định ông T1 đã đập pháp bức tường và lấn chiếm phần đất của bà K.
Cấp sơ thẩm sử dụng chứng cứ không hợp pháp là Bản đồ hiện trạng – vị trí áp ranh của Trung tâm Đ phát hành; sử dụng chứng cứ không toàn diện, giải quyết vụ án không triệt để khi không làm rõ bức tường bị đập phá thuộc sở hữu của ai, ai đập phá...
Đề nghị hủy bản án sơ thẩm do có nhiều vi phạm và sai sót về tố tụng.
Bị đơn ông Đỗ Giao T1 trình bày:
Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn bà Lê Hồng Linh K kháng cáo cho rằng bà không rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/7/2024, việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bà K đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung để không xem xét giải quyết các yêu cầu này là nhầm lẫn, không đúng sự thật.
Hội đồng xét xử nhận thấy, ngày 25/7/2024 bà K có đơn khởi kiện bổ sung nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm. Tại thời điểm này, Tòa án cấp sơ thẩm đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 467/2024/QĐXXST-DS ngày 04/7/2024 để đưa vụ án ra xét xử vào ngày 26/7/2024. Đơn khởi kiện bổ sung của bà K chưa được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý theo thủ tục chung.
Theo quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đương nếu việc bổ sung không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Các yêu cầu nêu trong đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/7/2024 của bà K là yêu cầu mới, đã vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định không chấp nhận việc bổ sung yêu cầu khởi kiện này tại phiên tòa sơ thẩm là có cơ sở.
Ngoài ra, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 26/7/2024, nguyên đơn bà K cùng người đại diện theo ủy quyền là ông Đinh T đều có mặt tham gia phiên tòa. Biên bản phiên tòa thể hiện, trong phần tranh tụng, sau khi các bên đương sự đặt câu hỏi với nhau và Chủ tọa phiên tòa sơ thẩm đặt câu hỏi với các đương sự thì bà K cùng ông T đã hội ý và đề nghị được rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/7/2024. Chủ tọa cũng yêu cầu ông T xác định rõ lại các yêu cầu khởi kiện. Ông T trình bày chỉ yêu cầu bị đơn bồi thường giá trị bức tường đã đập bỏ và giá trị diện tích ranh đất bị lấn chiếm tổng cộng là 255.500.000 đồng; các yêu cầu khác đều xin rút tại phiên tòa. Bà K không có ý kiến phản đối đối với lời trình bày của ông T. Như vậy, việc nguyên đơn đề nghị được rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện bổ sung là có thật, hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc; không có căn cứ để xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã nhầm lẫn khi nhận định bà K đã rút yêu cầu khởi kiện bổ sung. Các yêu cầu khởi kiện của bà K đã được bà K, ông T xác định rõ tại phiên tòa sơ thẩm.
[2] Đối với lời trình bày của nguyên đơn về việc Tòa án cấp sơ thẩm đã triệu tập thiếu người làm chứng là bà Nguyễn Thị T3. Xét thấy, trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn không hề có yêu cầu Tòa án triệu tập người làm chứng. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cung cấp một giấy làm chứng của bà T3. Những nội dung tại giấy làm chứng cũng chỉ là lời trình bày của cá nhân bà T3, không có chứng cứ nào khác chứng minh lời trình bày của bà T3 là có cơ sở. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu hủy bản án sơ thẩm vì lý do này là không có căn cứ để chấp nhận.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà K là ông H trình bày diện tích phần đất mà ông T1 đã lấn chiếm của bà K được xác định tại vị trí số (15) có chiều dài 2,95m, ngang 0,2m và tại vị trí tiếp giáp có chiều dài 1,72m, ngang 0,05m (không được đánh số). Bản đồ hiện trạng vị trí ranh đất ngày 09/11/2023 của Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H chưa thể hiện được vị trí phần đất tranh chấp. Phần diện tích đất bị lấn chiếm mà bà K nêu tại cấp sơ thẩm là không chính xác. Tòa án cấp sơ thẩm sử dụng Bản đồ hiện trạng ngày 09/11/2023 là không hợp pháp, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do vi phạm về tố tụng.
Nhận thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm đã đề nghị Trung tâm Đo đạc bản đồ Thành phố H tiến hành đo vẽ, áp ranh các giấy chứng nhận cũng như đo vẽ hiện trạng sử dụng thực tế của hai nhà nguyên đơn và bị đơn. Sau khi có bản đồ hiện trạng ngày 09/11/2023, bà K không có khiếu nại hay có ý kiến không đồng ý với bản đồ này. Tại các buổi hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, bà K cùng người đại diện theo ủy quyền là ông T vẫn xác định bản đồ hiện trạng của Trung tâm Đo đạc bản đồ Thành phố là chính xác, phần diện tích đất bị ông T1 lấn chiếm có vị trí ngang 3,75m x 0,2m và vị trí dọc 3,1m x 0,2m, bà K yêu cầu ông T1 phải bồi thường giá trị phần đất đã lấn chiếm là 205.500.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của phía bà K.
[4] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà K khi cho rằng bị đơn ông T1 trong quá trình xây dựng nhà 11/6A Trương Công Đ đã đập phá bức tường và lấn chiếm phần đất thuộc căn nhà số A T của bà K; bức tường và phần đất này nằm tiếp giáp giữa hai nhà của bà K và ông T1.
[4.1] Nhận thấy, nhà của bà K có số A T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa đất số 20, tờ bản đồ 18 (BĐĐC-2005). Trước đây nhà đất đã được Ủy ban nhân dân quận T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BT 107843, số vào sổ cấp GCN CH02052 ngày 15/9/2014 cho ông Trương Kim N, bà Nguyễn Thị T3; sau đó cập nhật sang tên do chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hồng S, bà Lê Hồng Linh K ngày 27/4/2017. Theo giấy chứng nhận số BT 107843 thì thửa đất số 20 có diện tích 110,4m2, diện tích xây dựng là 99,2m².
Đến ngày 28/11/2018 ông S, bà K được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CM 750416; số vào sổ cấp GCN CH02052;
cập nhật biến động sang tên do tặng cho cho bà K ngày 13/12/2019. Theo giấy chứng nhận số CM 750416 thì thửa đất số 20 có diện tích 110m². Bà K không có khiếu nại về việc diện tích thửa đất bị giảm khi cấp đổi.
[4.2] Nhà của ông T1 có số A T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ 18 (BĐĐC-2005) đã được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CĐ 469233, số vào sổ cấp GCN CS00148 ngày 22/10/2016 cho ông Trần Văn C, bà Trần Thị L1; cập nhật biến động sang tên do chuyển nhượng ông Đỗ Giao T1 ngày 12/01/2017 và sang tên bà Đỗ Kim V1 do chuyển nhượng ngày 07/3/2023. Theo giấy chứng nhận thì thửa đất số 23 có diện tích 47,3m².
Ngày 22/4/2021 giấy chứng nhận được cập nhật thay đổi về nội dung: “...diện tích xây dựng 47,3m² căn cứ Giấy phép xây dựng số 20.1029/GPXD ngày 31/8/2020 do UBND quận T cấp; Biên bản kiểm tra hoàn thành công trình xây dựng ngày 13/01/2021...” theo hồ sơ đăng ký biến động số 4650-2021.
[4.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã đề nghị Trung tâm Đo đạc bản đồ Thành phố H tiến hành đo vẽ, áp ranh các giấy chứng nhận cũng như đo vẽ hiện trạng sử dụng thực tế của hai nhà nguyên đơn và bị đơn. Sau khi có bản vẽ, Tòa án cấp sơ thẩm có công văn đề nghị Trung tâm Đo đạc bản đồ Thành phố H giải thích, chỉ dẫn cụ thể về hiện trạng diện tích, vị trí và ranh đất giữa hai nhà của bà K và ông T1.
Tại Công văn số 2155/TTĐĐBĐ ngày 29/12/2023 của Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thể hiện các nội dung như sau:
- “- Diện tích, ranh giới, hiện trạng thực tế nhà của ông T1 số 11/6A Trương Công Đ phù hợp với ranh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở T cấp ngày 22/10/2016 cho ông T1, chỉnh lý cập nhật theo nội dung chứng nhận thay đổi trên giấy chứng nhận ngày 22/4/2021 theo hồ sơ số 4650-2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận T. Trong đó, tại vị trí số (17) diện tích 0,1m² nằm trong ranh giấy chứng nhận của ông T1 do chủ sử dụng xây chừa lại để làm cửa ra vào.
- - Diện tích, ranh giới, hiện trạng thực tế nhà của bà K số 11/8 Trương Công Đ phù hợp với ranh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở T cấp ngày 28/11/2018, cập nhật biến động ngày 13/12/2019 cho bà K. Trong đó, tại vị trí số (1) diện tích 0,2m² nằm trong ranh giấy chứng nhận của bà K do chủ sử dụng xây dựng hiện trạng nhỏ hơn giấy chứng nhận.
- - Vị trí số (17) và số (15) trên bản đồ không chồng lấn ranh, cụ thể: vị trí số (17) hiện trạng là hẻm thuộc giấy chứng nhận của nhà số A T (nhà ông T1); số (15) hiện trạng là khoảng trống thuộc giấy chứng nhận cũ số BT 107843 ngày 15/9/2014 của Ủy ban nhân dân quận T, không thuộc giấy chứng nhận mới số CM 750416 ngày 28/11/2018 của Sở T Thành phố cấp cho bà K tại nhà số A T.
Nhà của ông T1 không lấn ranh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cũ số BT 107843 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 15/9/2014”.
[4.4] Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ theo Bản đồ hiện trạng vị trí – ranh đất ngày 09/11/2023 cùng công văn giải thích, chỉ dẫn của Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đã có đủ cơ sở để xác định diện tích, ranh giới, hiện trạng thực tế nhà của ông T1 tại số A T nằm hoàn toàn trong ranh giấy chứng nhận mà ông T1 được công nhận; hiện trạng nhà đất ông T1 đang sử dụng không hề lấn ranh, lấn diện tích trên thực tế cũng như không lấn ranh, lấn diện tích trên cả hai giấy chứng nhận cũ và mới tại số A T của bà K.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà K không đưa ra được căn cứ chứng minh ông T1 đã lấn chiếm bức tường và phần diện tích đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà K do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà K, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 166, 170, 174, 175, 176, 246 Bộ luật dân sự năm 2015Điều 3, 4, 98, 166, 170, 171 và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Hồng Linh K. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Hồng Linh K về việc:
- - Buộc ông Đỗ Giao T1 là chủ sở hữu hợp pháp của nhà A T, Phường A, quận T phải tiến hành tháo dỡ phần diện tích xây dựng lấn chiếm sang phần đất của nhà số A T, Phường A, quận T thuộc thửa đất số 20; tờ bản đồ số 18 (BĐĐC – 2005) và tháo dỡ khoảng không gian trên đất bao gồm tất cả các tầng lầu xây dựng lấn chiếm. Buộc ông Đỗ Giao T1 phải xây dựng trả lại hiện trạng phần bờ tường của nhà A T, Phường A, quận T như ban đầu.
- - Yêu cầu ông Đỗ Giao T1 phải xây dựng tường riêng không được sử dụng bờ tường của nhà số A T, Phường A, quận T.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Hồng Linh K về việc buộc bị đơn ông Đỗ Giao T1 phải bồi thường giá trị xây dựng bức tường là 50.000.000 đồng và giá trị diện tích ranh đất bị lấn chiếm là 205.500.000 đồng, tổng cộng là 255.500.000 đồng.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá và đo vẽ:
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá là 8.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ theo Thông báo nộp tạm ứng chi phí tố tụng và Phiếu thu.
Về chi phí đo vẽ: Nguyên đơn ký hợp đồng đo vẽ và đã nộp tạm ứng để thực hiện việc đo vẽ. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu toàn bộ số tiền này.
- Về án phí:
Bà Lê Hồng Linh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.775.000 đồng (Mười hai triệu bảy trăm bảy mươi lăm ngàn đồng), được cấn trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí bà K đã nộp theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0069493 ngày 19/5/2021 và 6.387.500 đồng (Sáu triệu ba trăm tám mươi bảy ngàn năm trăm đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0069492 ngày 19/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà K còn phải nộp 6.087.500 đồng (Sáu triệu không trăm tám mươi bảy ngàn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Lê Hồng Linh K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được cấn trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí bà K đã nộp theo Biên lai thu số 0002213 ngày 09/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Kim Dung |
Bản án số 925/2024/DS-PT ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ranh bất động sản liền kề và yêu cầu bồi thường thiệt hại
- Số bản án: 925/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ranh bất động sản liền kề và yêu cầu bồi thường thiệt hại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: RANH BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ
