|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 925/2024/HS-PT Ngày: 25-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán:
Ông Dương Tuấn Vinh
Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 748/2024/TLPT- HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lê Công T. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Công T đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 319/2024/HS-ST ngày 05-7-2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 939/2024/QĐXXPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Công T, sinh ngày 01/01/1987, tại tỉnh Đồng Tháp.
Nơi đăng ký thường trú: tổ C, ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: 4 đường T, tổ A, Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lê Văn N (chết) và bà Lý Thị H, sinh năm 1965; bị cáo sống chung như vợ chồng với bà Phan Thị Kim D (bị hại trong vụ án); chưa có con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Lê Mạnh C – Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
- Người bị hại: Bà Phan Thị Kim D, sinh năm 1976 (đã chết).
- Đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Quách Thị D1, sinh năm 1952. Trú tại địa chỉ: Số A đường Đ, thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Tây (nay là Thành phố Hà Nội) (vắng mặt).
- Ông Phan Văn G, sinh năm 1951. Trú tại địa chỉ: Số A đường Đ, thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Tây (nay là Thành phố Hà Nội) (vắng mặt).
- Chị Đặng Phan Kim N1, sinh ngày 16/7/2004. Nơi đăng ký thường trú: 109/1 Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: 479/11 đường T, tổ A, Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Lê Thị T1, sinh năm 1981, địa chỉ: N, thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Tây (nay là Thành phố Hà Nội) (vắng mặt).
- Người làm chứng: Anh Lê Văn Đ; sinh năm 1995; nơi đăng ký thường trú: ấp N, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2010, Lê Công T và bà Phan Thị Kim D (sinh năm 1976, hộ khẩu thường trú: 109/1, Khu phố A, phường T, Quận A) sống chung như vợ chồng tại nhà số D đường T, Tổ A, Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cùng với con riêng của bà D là chị Đặng Phan Kim N1 (sinh ngày 16/7/2004).
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 06/9/2022, bà D gọi điện thoại hẹn gặp Lê Công T tại ngã ba đường, thuộc tổ A, Khu phố F, phường T, Quận A, cách nhà khoảng 50 mét để nói chuyện. Khi T đi bộ đến điểm hẹn thì gặp bà D đang đứng nói chuyện với anh Lê Văn Đ (sinh năm 1995; thường trú: ấp N, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau), bà D xưng là “vợ” và kêu anh Đ là “chồng” nên T ghen tuông dùng tay tát vào mặt bà bà D, rồi kêu anh Đ cùng bà D về nhà để nói chuyện nhưng anh Đ sau đó đi đâu không rõ. Lúc về đến nhà, T hỏi bà D là anh Đ có mối quan hệ như thế nào với bà D, nhưng bà D không trả lời mà đòi chia tay với T nên giữa T và bà D xảy ra mâu thuẫn. Bà D đi lên phòng của con gái là chị Đặng Phan Kim N1 trên tầng 01 ngủ, còn T ngủ một mình trong phòng đối diện phòng của chị N1. Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 07/9/2022, T gọi điện thoại kêu bà D sang phòng Ty nói chuyện thì giữa T và bà D tiếp tục cãi nhau, bà D yêu cầu T dọn đồ đạc đi khỏi nhà. Nên T nảy sinh ý định giết bà D, T đi xuống bếp lấy 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 23,5cm (cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 11,6cm) bỏ vào túi quần bên phải, rồi đi lên phòng ngủ của T. Khi vào phòng, T thấy bà D đang nằm trên nệm, T liền dùng dao đâm 02 nhát vào cổ trái, 01 nhát vào cổ phải của bà D; thấy bà D chưa chết, T tiếp tục leo lên người dùng 02 chân đè giữ 02 tay và dùng tay bịt mũi, miệng của bà D cho đến khi bà D tử vong. Đến khoảng 07h00' cùng ngày 07/9/2022, Lê Công T đến Công an phường T, Quận A tự thú.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 5193-22/KL-KTHS ngày 09/11/2022 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận có nội dung:
- Nguyên nhân bị hại Phan Thị Kim D chết do sốc mất máu không hồi phục, do vết thương đâm đứt động mạch cảnh chung trái;
- Trong máu không tìm thấy cồn và ma túy; không tìm thấy các chất độc thường gặp.
- Cơ chế hình thành thương tích: Tất cả vết thương thủng da trên cơ thể nạn nhân do vật sắc nhọn gây ra theo cơ chế đâm; Tất cả vết đứt da trên cơ thể nạn nhân do vật sắc nhọn gây ra theo cơ chế cắt; Các vết bầm tụ máu do vật tày tác động trực tiếp gây ra.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 319/HSST ngày 05-7-2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:
Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm e khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Công T tử hình, về tội “Giết người”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, bị cáo Lê Công T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Lê Công T giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ, cố ý thực hiện tội phạm đến cùng. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo tử hình về tội giết người là có căn cứ. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.
Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo cho: bị cáo và bị hại chung sống với nhau như vợ chồng đến ngày xảy ra vụ án đã hơn 10 năm, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do bị hại đã đưa bạn trai mới đến giới thiệu là chồng và đòi chia tay với bị cáo nên phần nào đã tác động đến tâm lý ức chế dẫn đến bị cáo thiếu kiềm chế nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi phạm tội đã tự giác ra đầu thú; bị cáo phạm tội lần đầu và có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo tử hình là quá nghiêm khắc, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng mức hình phạt tù chung thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Công T là trong hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
* Về nội dung:
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Công T khai nhận như sau: Bị cáo và bị hại sống chung với nhau như vợ chồng được hơn 10 năm, do bà D đưa bạn trai đến gặp bị cáo và giới thiệu là chồng mới, nên bị cáo ghen tuông, ức chế không làm chủ được. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 07/9/2022, tại nhà của bị hại, bị cáo dùng 01 con dao dài khoảng 23,5cm lưỡi sắc đâm 02 nhát vào cổ trái và 01 nhát vào cổ phải của bà D trong tư thế bà D đang nằm ngửa trên nệm. Thấy bà D chưa chết, bị cáo tiếp tục dùng 02 chân đè giữ 02 tay và dùng tay tỳ đè bịt mũi, miệng bà D cho đến khi bà D chết.
- Xét lời khai nhận tội của bị cáo Lê Công T với Biên bản người phạm tội ra tự thú, Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản thực nghiệm điều tra, Kết luận giám định pháp y tử thi, vật chứng thu giữ được là phù hợp với nhau. Do đó, có căn cứ để kết luận: Hành vi tước đoạt tính mạng của người bị hại Phan Thị Kim D do bị cáo Lê Công T thực hiện đã phạm vào tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, phạm tội có tính chất côn đồ và cố tình thực hiện tội phạm đến cùng để tước đoạt tính mạng của người bị hại, gây đau thương mất mát không gì bù đắp được cho gia đình nạn nhân, gây phản ứng bất bình trong xã hội nơi vụ án xảy ra, cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm minh.
- Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú; có nhân thân tốt nhất thời phạm tội; bị hại cũng có một phần lỗi trong việc đã có thời gian hơn 10 năm chung sống như vợ chồng với bị cáo nhưng khi 02 bên đang mâu thuẫn với nhau bị hại lại đưa bạn trai mới đến gặp trực tiếp với bị cáo để giới thiệu là chồng mới trong khi mối quan hệ chung sống như vợ chồng với bị cáo vẫn đang tồn tại. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt của bị cáo Lê Công T với hình phạt “tù chung thân” đối với bị cáo cũng đảm bảo tính giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa chung.
- Ý kiến Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo là không có căn cứ.
- Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có căn cứ.
- Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo không phải chịu.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Công T.
Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 319/2024/HS-ST ngày 05-7-2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Công T phạm tội “Giết người”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm e khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Công T tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2022, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Công T không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 925/2024/HS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 925/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Công T phạm tội "Giết người" theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS 2015.
