TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 924/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-7-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thái Văn Sơn;
- Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 363/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 327/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 359/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 1974; địa chỉ: Số B đường V, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Võ Hoàng T, sinh năm: 1974; địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 18 tháng 3 năm 2024 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:
Bà với ông Võ Hoàng T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 44, Quyển số 01/2011 ngày 01/7/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng hạnh phúc một thời gian, rồi phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng và tôn trọng nhau, thường xuyên cãi vã gay gắt, ông T xúc phạm, không tôn trọng gia đình vợ nên bà đã ly thân với ông Võ Hoàng T hơn 04 năm nay. Bà xác định không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Võ Hữu T1, sinh ngày 11/10/2011; hiện con chung đang sống với bà. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét.
Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Sổ hộ khẩu, Căn cước công dân mang tên Võ Hoàng T (bản phô tô), Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Ngọc L (bản sao), Giấy đăng ký kết hôn (bản chính), Giấy khai sinh của con chung (bản sao), đơn khởi kiện, bản tự khai (bản chính).
Ông Võ Hoàng T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung Đơn khởi kiện ngày 18 tháng 3 năm 2024, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” được quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thuộc trường hợp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại xã A, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về tống đạt, xét xử vắng mặt của đương sự: Ông Võ Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L với ông Võ Hoàng T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T giấy chứng nhận kết hôn số: 44, Quyển số 01/2011 ngày 01/7/2011 nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu của bà L xin ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, theo lời trình bày của bà L thì mâu thuẫn giữa bà với ông T là trầm trọng và không thể hàn gắn do bất đồng quan điểm sống mà vợ chồng thường xuyên cãi vã gay gắt, ông T xúc phạm và không tôn trọng gia đình bà, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho gia đình mất hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà với ông T đã ly thân với nhau hơn 04 năm nay.
Ông Võ Hoàng T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh có liên quan đến vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T căn cứ theo các tài liệu chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Ngọc L với ông Võ Hoàng T không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của hai bên không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2]. Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Hữu T1, sinh ngày 11/10/2011; hiện trẻ T1 đang sống cùng bà L. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của con chung và theo yêu cầu của bà L cũng như nguyện vọng của trẻ T1 nên cần giao cho bà Nguyễn Thị Ngọc L tiếp tục được quyền nuôi dưỡng con chung và ông T không cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
[2.3]. Về tài sản chung: Ghi nhận lời khai của bà Nguyễn Thị Ngọc L xác định vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4]. Nghĩa vụ dân sự chung: Ghi nhận lời khai của bà Nguyễn Thị Ngọc L xác định vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.5]. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với ông Võ Hoàng T.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 44, Quyển số 01/2011 ngày 01/7/2011 đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông T, bà L không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Hữu T1, sinh ngày 11/10/2011. Bà Nguyễn Thị Ngọc L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung trẻ Võ Hữu T1. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Ngọc L không yêu cầu ông Võ Hoàng T cấp dưỡng nuôi con chung.
Việc cấp dưỡng nuôi con chung có thể thay đổi do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con chung.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
- Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Ngọc L phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2023/0019665 ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Anh Đạt |
Bản án số 924/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 924/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với ông Võ Hoàng T.
