Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 924/2023/HC-PT

Ngày: 24 - 10 - 2023

V/v khiếu kiện quyết định hành chính

về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái

định cư và giải quyết khiếu nại trong

lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Lê Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 412/2023/TLPT-HC ngày 22 tháng 6 năm 2023 về “Khiếu kiện quyết định hành chính về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2023/HC-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

1. Người khởi kiện:

1.1. Ông Trần Văn T, sinh năm 1965; (đại diện hộ) (có mặt)

1.2. Bà Lê Thị H, sinh năm 1968; (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị H: Ông Nguyễn Phú K, sinh năm 1957; Địa chỉ: số C, Quốc lộ H, khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 02/11/2022) (có mặt)

2. Người bị kiện:

2.1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Minh T1 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C (có văn bản xin xét xử vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thanh D - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C (theo Giấy ủy quyền ngày 26/10/2022).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện C và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C: Bà Kim Hồng P, sinh năm 1979, Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C (có mặt)

Cùng địa chỉ: Số 80, Quốc lộ 80, khóm Phú Mỹ, thị trấn Cái Tàu Hạ, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp

3. Người kháng cáo: người khởi kiện ông Trần Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại các Đơn khởi kiện ngày 02/8/2022 và Đơn khởi kiện (bổ sung) ngày 04/01/2023 của người khởi kiện ông Trần Văn T và bà Lê Thị H trình bày:

Ông bà có phần đất diện tích 2.733,8m², thửa số 81, tờ bản đồ số 19, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa: BQ 679223, số vào sổ CH02519 cấp ngày 04/12/2013; phần đất diện tích 1.290,6m², thửa số 82, tờ bản đồ số 19, cấp giấy chứng nhận số bìa AL 118399, số vào sổ H 02399 cấp ngày 17/02/2008; phần đất diện tích 3.294,5m², thửa số 57, tờ bản đồ số 20, cấp giấy chứng nhận số bìa BQ 679224, số vào sổ CH 02520 cấp ngày 04/12/2013.

Ngày 19/01/2021, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 22/QĐ-UBND về việc thu hồi thửa 81, diện tích 1.575,4m², loại đất trồng cây lâu năm của ông T và bà H, ngụ ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, đất tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình khu tái định cư tuyến đường cao tốc M - Cần Thơ, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Cùng ngày 19/01/2021, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 24/QĐ-UBND về việc thu hồi thửa 82, diện tích 1.275,2m², loại đất trồng cây lâu năm và Quyết định số 45/QĐ- UBND về việc thu hồi thửa 57, diện tích 2.843,4m², loại đất trồng cây lâu năm của ông T và bà H. Ngày 31/01/2022, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 103/QĐ-UBND điều chỉnh Quyết định số 22/QĐ-UBND ghi nhận: “Thu hồi 1.575,4m² thuộc một phần thửa 81, tờ bản đồ số 19, lý do là Điều chỉnh theo kết quả đo đạc diện tích thu hồi đất thực tế đối chiếu với thông tin thửa đất trên bản đồ địa chính chính quy”.

Ngày 22/01/2021, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 34/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho ông T và bà H là 2.287.207.114 đồng, trong đó bồi thường về đất là 763.932.000 đồng, tương đương giá 134.000đ/m². Giá bồi thường thấp so với giá thực tế ở địa phương nên ông bà không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và khiếu nại. Ngày 16/3/2022, Ủy ban nhân dân Huyện ra Thông báo số 24/TB-UBND không thụ lý giải khiếu nại. Ngày 11/02/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Quyết định số 128/QĐ-CC cưỡng chế thu hồi đất.

Căn cứ Điều 40, 41 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ: Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong trường hợp nhà đầu tư thỏa thuận với người sử dụng đất không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất.

Xét thấy: Dự án xây dựng khu tái định cư là dự án nhằm phát triển kinh tế, không thuộc trường hợp thu hồi đất nhằm mục đích an ninh, quốc phòng lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Vì vậy chủ đầu tư dự án xây dựng khu tái định cư có trách nhiệm thỏa thuận với người sử dụng đất, nhưng chủ đầu tư chưa thỏa thuận việc chuyển quyền sử dụng, chưa giải quyết việc bồi thường hỗ trợ tái định cư theo quy định của pháp luật mà Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 34/QĐ-UBND ngày 22/01/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 128/QĐ-CC ngày 11/02/2022 là không đúng với quy định của Điều 40, 41, 60 của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.

Ông bà bị thu hồi đất 5.694m² nhưng được giải quyết mua nền bán thêm tại phần đất thu hồi.

Nay ông bà yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 45/QĐ-UBND ngày 19/01/2021 về việc thu hồi đất, Quyết định số 34/QĐ-UBND ngày 22/01/2021 về bồi thường, hỗ trợ, Quyết định số 128/QĐ-CC ngày 11/02/2022 về việc cưỡng chế thu hồi đất, Thông báo số 24/TB-UBND ngày 16/3/2022 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, người khởi kiện bổ sung yêu cầu hủy các Quyết định số 22/QĐ-UBND ngày 19/01/2021 về việc thu hồi đất, Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 19/01/2021 về việc thu hồi đất, Quyết định số 103/QĐ-UBND ngày 31/01/2022 về việc điều chỉnh Quyết định số 22/QĐ-UBND.

* Tại Văn bản ý kiến số 5490/UBND-NC ngày 07/12/2022 và Văn bản ý kiến số 469/UBND-NC ngày 10/02/2023 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C trình bày:

1. Tóm tắt nội dung

Ngày 14/7/2020, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Quyết định số 572/QĐ-UBND phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết Khu tái định cư T đường C - Cần Thơ.

Ngày 12/8/2020, Ủy ban nhân dân Tỉnh ban hành Quyết định số 176/QĐ-UBND-NĐ về việc phê duyệt bổ sung Kế hoạch sử dụng đất năm 2020 của các huyện, thị xã, thành phố.

Ngày 25/8/2020, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Quyết định số 775/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, bồi thường để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Khu tái định cư D - Cần Thơ, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 01/9/2020, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Quyết định số 815/QĐ-UBND phê duyệt đồ án điều chỉnh, mở rộng quy hoạch chi tiết trung tâm xã A (quy hoạch chi tiết Khu tái định cư dự án đường C - Cần Thơ).

Ngày 09/9/2020, Ủy ban nhân dân Tỉnh có Công văn số 726/UBND-KT về việc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân huyện C thông báo và thu hồi đất.

Ngày 28/9/2020, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Thông báo số 710,712,733/TB-UBND về việc thông báo thu hồi đất đối với hộ ông Trần Văn T để thực hiện dự án (kèm Biên bản trao Thông báo).

Ngày 06/10/2020, Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất Huyện phối hợp Ủy ban nhân dân xã A đã tiến hành điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm để bồi thường đối với ông Trần Văn T và bà Lê Thị H.

Ngày 11/12/2020, Ủy ban nhân dân Tỉnh ban hành Quyết định số 318/QĐ-UBND-NĐ phê duyệt đơn giá đất cụ thể làm cơ sở lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình Khu tái định cư tuyến đường cao tốc M - Cần Thơ, xã A, huyện C.

Ngày 22/12/2020, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Quyết định số 1232/QĐ-UBND phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Khu tái định cư dự án đường C - Cần Thơ, hạng mục: bồi thường giải phóng mặt bằng, hệ thống điện, hệ thống giao thông và hệ thống cấp, thoát nước.

Ngày 19/01/2021, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành các Quyết định thu hồi đất đối với hộ ông Trần Văn T và bà Lê Thị H để thực hiện dự án. Cụ thể:

- Quyết định số 22/QĐ-UBND: Về việc thu hồi đất với diện tích 1.575,4m² đất trồng cây lâu năm, thuộc trọn thửa đất số 81, tờ bản đồ số 19, đất tọa lạc xã A đối với hộ ông Trần Văn T và bà Lê Thị H.

- Quyết định số 24/QĐ-UBND: Về việc thu hồi đất với diện tích 1.275,2m² đất trồng cây lâu năm, thuộc trọn thửa đất số 82, tờ bản đồ số 19, đất tọa lạc xã A đối với hộ ông Trần Văn T và bà Lê Thị H.

- Quyết định số 45/QĐ-UBND: Về việc thu hồi đất với diện tích 2.843,4m² đất trồng cây lâu năm, thuộc trọn thửa đất số 57, tờ bản đồ số 20, đất tọa lạc xã A đối với hộ ông Trần Văn T và bà Lê Thị H.

(Kèm Biên bản trao Quyết định)

Ngày 19/01/2021, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Quyết định số 63/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án đầu tư xây dựng công trình Khu tái định cư T - Cần Thơ, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (kèm Biên bản niêm yết ngày 20/01/2021).

Ngày 22/01/2021, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Quyết định số 34/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Trần Văn T và bà Lê Thị H với tổng số tiền là 2.287.207.114 đồng (kèm Biên bản trao Quyết định).

Ngày 31/01/2022, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Quyết định số 103/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 22/QĐ-UBND ngày 19/01/2021 của Ủy ban nhân dân Huyện. Nội dung điều chỉnh từ “trọn thửa đất số 81, tờ bản đồ số 19” thành “một phần thửa đất số 81, tờ bản đồ số 19”.

Đến nay, ông Trần Văn T và bà Lê Thị H chưa nhận tiền bồi thường, hỗ trợ với tổng giá trị: 2.287.207.114 đồng. Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất H1 đã ra Thông báo chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho hộ dân lần 2.

1.1. Khiếu nại liên quan lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Ngày 17/02/2022, Ủy ban nhân dân Huyện có nhận được đơn khiếu nại của ông Trần Văn T. Nội dung: Khiếu nại về việc yêu cầu nâng giá bồi thường, hỗ trợ về đất trồng cây lâu năm thuộc khu vực 2, vị trí 2 là 1.000.000 đồng/m² và khu vực 2, vị trí 3 là 590.000 đồng/m², yêu cầu được mua 04 nền tái định cư không thông qua đấu giá, do thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Khu tái định cư T - Cần Thơ, xã A.

Ngày 16/3/2022, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Thông báo số 24/TB-UBND về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông Trần Văn T và bà Lê Thị H. Lý do: Thời hiệu, thời hạn đã hết mà không có lý do chính đáng (kèm Biên bản trao Thông báo cho hộ dân).

1.2. Công tác giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án

Ngày 15/9/2021, Ủy ban nhân dân xã A, Đoàn thể xã và các ngành chức năng Huyện tiếp xúc, vận động ông Trần Văn T và bà Lê Thị H nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án (kèm Biên bản).

Ngày 11/02/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 128/QĐ-CC về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ ông Trần Văn T và bà Lê Thị H (kèm Biên bản trao hộ dân, Biên bản niêm yết).

Ngày 22/9/2022, sau khi thông qua Quyết định cưỡng chế thu hồi đất, ông Trần Văn T và bà Lê Thị H tự nguyện thực hiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất, phối hợp cùng Nhà nước tháo dỡ vật kiến trúc, đốn hạ cây trồng, di dời khỏi phạm vi đất đã thu hồi và đơn vị thi công đã thi công thực hiện dự án (kèm Biên bản).

2. Ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện C

Căn cứ Luật đất đai năm 2013; Luật khiếu nại năm 2011; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 27/2014/QĐ-UBND ngày 27/11/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.

Ủy ban nhân dân huyện C đã ban hành các Quyết định và Thông báo nêu trên là đúng theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân huyện C giữ nguyên nội dung các Quyết định, Thông báo như sau:

- Quyết định số 34/QĐ-UBND ngày 22/01/2021 của Ủy ban nhân dân Huyện về việc bồi thường, hỗ trợ để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Khu tái định cư T - Cần Thơ, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đối với hộ ông Trần Văn T và bà Lê Thị H, ngụ ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Quyết định số 128/QĐ-UBND ngày 11/02/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện về việc cưỡng chế thu hồi đất.

- Thông báo số 24/TB-UBND ngày 16/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại.

- Quyết định số 45/QĐ-UBND ngày 19/01/2021 của Ủy ban nhân dân Huyện về việc thu hồi đất

Đề nghị ông Trần Văn T và bà Lê Thị H nhận tiền bồi thường, hỗ trợ dự án đầu tư xây dựng công trình Khu tái định cư T - Cần Thơ, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp theo quy định.

* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2023/HC-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, quyết định:

Căn cứ vào Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 158, Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính 2015;

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 62, các Điều 66, 67, 68, 69, 71, 74 Luật đất đai 2013, khoản 1 Điều 18 Luật khiếu nại 2011;

Căn cứ vào Điều 28 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;

Căn cứ vào Điều 9 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T2 Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng, thu hồi đất;

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Bác khởi kiện của ông Trần Văn T (đại diện hộ) và bà Lê Thị H đối với yêu cầu hủy: Quyết định số 22/QĐ-UBND ngày 19/01/2021, Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 19/01/2021, Quyết định số 45/QĐ-UBND ngày 19/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Khu tái định cư T - Cần Thơ, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, Quyết định số 34/QĐ-UBND ngày 22/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trần Văn T và bà Lê Thị H, Quyết định số 103/QĐ-UBND ngày 31/01/2021 về điều chỉnh Quyết định số 22/QĐ-UBND, Thông báo số 24/TB-UBND ngày 16/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại, Quyết định số 128/QĐ-CC ngày 11/02/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc cưỡng chế thu hồi đất.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 22/5/2023, người khởi kiện ông Trần Văn T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại vì cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã không đưa Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất tham gia tố tụng; Việc quy định giá là quá thấp và không đúng, vì đây là dự án vì mục đích thương mại, không phải vì mục đích công cộng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm như sau:

Căn cứ các chứng cứ đã thu thập cho thấy, quá trình thu hồi, bồi thường, hỗ trợ... đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Việc đương sự yêu cầu phải đưa Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất tham gia tố tụng để đề nghị hủy án là không phù hợp.

Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở ý kiến trình bày của các đương sự, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Đối với kháng cáo của ông Trần Văn T về các nội dung:

- Việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Chủ đầu tư là Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan là vi phạm thủ tục tố tụng hành chính.

- Việc áp dụng giá bồi thường theo khung giá Nhà nước là trái pháp luật, thấp hơn giá thực tế 10 lần, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình ông.

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã thu thập và các quy định của pháp luật về đất đai thấy rằng:

Để thực hiện đầu tư xây dựng công trình Khu tái định cư dự án đường C - Cần Thơ, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, ngày 19/01/2021 Ủy ban nhân dân huyện C đã ban hành Quyết định số 22/QĐ-UBND thu hồi 1.575,4m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 19, Quyết định số 24/QĐ-UBND thu hồi 1.275,2m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 82, tờ bản đồ số 19, Quyết định số 45/QĐ-UBND thu hồi 2.843,4m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 57, tờ bản đồ số 20 đất tọa lạc xã A của ông Trần Văn T và bà Lê Thị H. Ngày 22/01/2021, Ủy ban nhân dân Huyện ban hành Quyết định số 34/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ cho ông T và bà H, với tổng số tiền là 2.287.207.114 đồng. Ngày 31/01/2022, Ủy ban nhân dân Huyện tiếp tục ban hành Quyết định số 103/QĐ-UBND điều chỉnh Quyết định số 22. Nội dung: thu hồi “trọn thửa số 81 tờ bản đồ số 19” thành “một phần thửa 81, tờ bản đồ số 19”.

* Đối với việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và cưỡng chế thu hồi đất của ông Trần Văn T và bà Lê Thị H xét thấy:

Hộ ông T và bà H được cấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 04/12/2013, diện tích 3.294,5m² thửa 57, tờ bản đồ số 20, mục đích sử dụng là đất chuyên trồng lúa nước; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cấp ngày 04/12/2013, diện tích 2.733,8m² thửa 81, tờ bản đồ số 19, mục đích sử dụng là đất trồng cây lân năm; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 17/02/2008, diện tích 1.290,6m² thửa 82, tờ bản đồ số 19, mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm.

Ngày 30/9/2020, ông T được nhận 03 Thông báo thu hồi đất số 710/TB-UBND, số 712/TB-UBND, số 733/TB-UBND ngày 28/9/2020. Ngày 06/10/2020, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập các Biên bản đo đạc, kiểm đếm xác định diện tích đất bị thiệt hại; Biên bản kiểm đếm cây trồng bị thiệt hại; Biên bản kiểm đếm nhà, công trình bị thiệt hại, 03 Phiếu xác nhận kết quả đo đạc địa chính thửa đất ngày 16/9/2020, đến ngày

19/01/2021 UBND huyện C ban hành Quyết định số 22 thu hồi 1.575,4m² trọn thửa 81, Quyết định số 24 thu hồi 1.275,2m² trọn thửa 82, Quyết định số 45 thu hồi đất 2.843,4m² trọn thửa 57 của ông T và bà H (ông T nhận các Quyết định trên vào ngày 20/01/2021). Đến ngày 22/01/2021 UBND Huyện ban hành Quyết định số 34 bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông T và bà H số tiền là 2.287.207.114 đồng (ông T nhận Quyết định ngày 25/01/2021).

Ngày 29/01/2021, Ban QLDA&PTQĐ Huyện giao Thông báo số 04/TB-QLDA&PTQĐ và bảng kê chi tiết bồi thường hỗ trợ cho ông T thông báo về thời gian nhận tiền bồi thường và giao mặt bằng để thi công, đến ngày 21/9/2021 giao cho ông T Thông báo số 16/TB-QLDA&PTQĐ ông T không chấp hành nên ngày 22/02/2022 Chủ tịch UBND huyện C ban hành Quyết định số 128 cưỡng chế thu hồi đất của ông T, bà H. Tuy nhiên sau đó ông bà tự nguyện thực hiện quyết định cưỡng chế, phối hợp cùng chính quyền tháo dỡ di dời vật kiến trúc, cây trồng.

Ngày 31/01/2022, UBND huyện C ban hành Quyết định số 103 điều chỉnh Quyết định số 22 Nội dung: thu hồi “trọn thửa số 81 tờ bản đồ số 19” thành “một phần thửa 81, tờ bản đồ số 19” (ông T nhận Quyết định ngày 07/2/2022).

Ngày 17/02/2022, ông T nộp đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện C yêu cầu nâng giá bồi thường về đất và mua nền tái định cư không qua đấu giá. Ngày 25/02/2022, các cơ quan tham mưu có lập biên bản tiếp xúc với ông T, bà H. Ngày 16/3/2022, Chủ tịch UBND Huyện ban hành Thông báo số 24 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại (ông T nhận Thông báo ngày 05/4/2022).

Như vậy: Về trình tự thủ tục đối với việc thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và cưỡng chế thu hồi đất, Ủy ban nhân dân huyện C đã thực hiện đúng quy định tại điểm c khoản 3 Điều 62, các Điều 67, 68, 69, 71 Luật đất đai 2013; Điều 17 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Điều 28 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Điều 9 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T2 Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng, thu hồi đất.

[2] Về nội dung ban hành các Quyết định:

Quá trình khởi kiện, ông T và người đại diện của bà H là ông Nguyễn Phú K yêu cầu hủy Quyết định số 22, Quyết định số 24, Quyết định số 45, Quyết định số 103, Quyết định số 34, Quyết định số 128, Thông báo số 24 vì cho rằng: dự án xây dựng khu tái định cư là dự án kinh tế, không thuộc trường hợp thu hồi đất nhằm mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Phải áp dụng Điều 40, 41 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong trường hợp này Chủ đầu tư dự án phải thỏa thuận việc chuyển quyền sử dụng đất với hộ gia đình ông bà. Yêu cầu Nhà

nước phải thương lượng giá, vì giá đất bồi thường 129.000đ/1m² là không phù hợp với Hợp đồng thế chấp bất động sản ngày 05/4/2018 giữa Ngân hàng TMCP S Chi nhánh Đ – Phòng G, bà Lê Thị Thu H2 và ông Võ Hoàng K1 thế chấp phần đất 831m² trị giá 615.000.000đ, Thông báo kết quả thẩm định giá số 385/TB-THADS ngày 08/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đối với các phần đất. Yêu cầu điều chỉnh quy hoạch chừa lại phần đất giáp đường ngang 15 mét, dài 16 mét.

Xét thấy: Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai đã hết hiệu lực từ ngày 01/7/2014 và được thay thế bằng Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, cho nên ông T và ông K yêu cầu áp dụng Nghị định số 84/NĐ-CP để giải quyết đối với trường hợp thu hồi đất của ông T và bà H là không có căn cứ chấp nhận. Mặt khác, Nhà nước thu hồi đất của ông T và bà H để làm Khu dân cư theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 62 của Luật đất đai 2013, mục đích thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và việc bồi thường phải thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật đất đai 2013: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.

Giá đất cụ thể đối với dự án này đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ phê duyệt bằng Quyết định số 318/QĐ-UBND-NĐ ngày 11/12/2020 và được Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 63/QĐ-UBND ngày 19/01/2021 về việc Phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư kèm theo là Phương án số 01/PABT-CT ngày 15/01/2021 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Phần đất của ông T và bà H theo các Quyết định trên và trong bảng kê chi tiết bồi thường có 78m² đất tiếp giáp với Hương lộ 18 trong phạm vi 50m đầu đối với thửa đất tiếp giáp đường thuộc khu vực 2, vị trí 2, giá bồi thường là 506.000đ/1m²; các diện tích khác ở VT2, VT3 (ngoài phạm vi 50m của các thửa đất giáp Hương lộ 18) có giá bồi thường là 129.000 đ/1m².

Đối với tài liệu chứng cứ là Hợp đồng thế chấp bất động sản ngày 05/4/2018 giữa Ngân hàng TMCP S Chi nhánh Đ – Phòng G, bà Lê Thị Thu H2 và ông Võ Hoàng K1 thế chấp phần đất 831m² trị giá 615.000.000₫ là để sử dụng vay vốn Ngân hàng hay Thông báo kết quả thẩm định giá của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành không phải là các căn cứ phù hợp với pháp luật cho vấn đề bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, cho nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Ngày 22/9/2022, cơ quan chuyên môn thi hành Quyết định số 128 cưỡng thu hồi đất nhưng ông T, bà H tự nguyện thực hiện quyết định cưỡng chế.

Từ đó cho thấy: Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 22, Quyết định số 24, Quyết định số 45, Quyết định số 103 về thu hồi đất và Quyết định số 34 bồi thường hỗ trợ cho ông T và bà H số tiền 2.287.207.114 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

* Đối với Thông báo số 24: Ông T nhận các Quyết định thu hồi đất vào ngày 20/01/2021, nhận Quyết định bồi thường vào ngày 25/02/2021. Ngày 17/02/2022, ông T gởi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện C không đồng ý quyết định thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ.

Theo quy định tại Điều 9 của Luật khiếu nại năm 2011: “Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính”.

Ông T nhận được Quyết định thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ từ các ngày 20/01/2021, 25/02/2021 nhưng đến ngày 17/02/2022 mới gởi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện C là đã quá thời hạn khiếu nại mà không có lý do chính đáng nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Thông báo số 24 không thụ lý giải quyết khiếu nại của ông T là đúng với quy định tại khoản 6 Điều 11 của Luật khiếu nại.

* Đối với yêu cầu điều chỉnh quy hoạch thu hồi đất, chừa lại cho ông T và bà H phần đất giáp đường ngang 15m, dài 16m: Ngày 19/9/2022, ông T gởi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện C yêu cầu điều chỉnh quy hoạch. Tuy nhiên ngày 22/9/2022, ông T, bà H đã tự nguyện giao đất để đơn vị thi công tiến hành san lấp công trình cho nên Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Văn bản số 4948/UBND-NC ngày 31/10/2022 trả lời cho ông T về việc không chấp nhận điều chỉnh quyết định thu hồi đất là phù hợp. Mặt khác, hộ ông T còn lại một phần đất tại thửa 81 đủ điều kiện sử dụng đất. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T và ông K không có yêu cầu gì đối với Văn bản số 4948/UBND-NC, cho nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét giải quyết là phù hợp.

* Đối với yêu cầu về việc Tòa án cấp sơ thẩm phải đưa Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thấy rằng: Đây thuộc trường hợp thu hồi đất phục vụ lợi ích công cộng, vì vậy việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư...là nhiệm vụ công vụ của Cơ quan quản lý hành chính Nhà nước. Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất chỉ là tổ chức dịch vụ công tham mưu, giúp việc cho Ủy ban nhân dân về lĩnh vực đất đai, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Ủy ban nhân dân. Vì lẽ đó, không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này. Yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện về nội dung này là không phù hợp, nên không được chấp nhận.

[3] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T (đại diện hộ) và bà Lê Thị H yêu cầu hủy Quyết định số 22/QĐ-UBND, Quyết định số 24/QĐ-UBND, Quyết định số 45/QĐ-UBND ngày 19/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Khu tái định cư T - Cần Thơ, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, Quyết định số 34/QĐ-UBND ngày 22/01/2021 về việc bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trần Văn T và bà Lê Thị H, Quyết định số 103/QĐ-UBND ngày 31/01/2022 về điều chỉnh Quyết định số 22/QĐ-UBND, Thông báo số 24/TB-UBND ngày 16/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại, Quyết định số 128/QĐ-CC ngày 11/2/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc cưỡng chế thu hồi đất là có căn cứ. Ông T kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ, tài liệu nào mới để chứng minh cho yêu cầu của mình, vì vậy không có cơ sở chấp nhận.

[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[5] Ông Trần Văn T phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính 2015;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2023/HC-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 62, các Điều 66, 67, 68, 69, 71, 74 Luật đất đai 2013, khoản 1 Điều 18 Luật khiếu nại 2011;

Căn cứ vào Điều 28 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;

Căn cứ vào Điều 9 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T2 Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng, thu hồi đất;

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Bác khởi kiện của ông Trần Văn T (đại diện hộ) và bà Lê Thị H đối với yêu cầu hủy: Quyết định số 22/QĐ-UBND ngày 19/01/2021, Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 19/01/2021, Quyết định số 45/QĐ-UBND ngày 19/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Khu tái định cư T - Cần Thơ, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, Quyết định số 34/QĐ-UBND ngày 22/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trần Văn T và bà Lê Thị H, Quyết định số 103/QĐ-UBND ngày 31/01/2021 về điều chỉnh Quyết định số 22/QĐ-UBND, Thông báo số 24/TB-UBND ngày 16/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại, Quyết định số 128/QĐ-CC ngày 11/02/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc cưỡng chế thu hồi đất.

Về án phí:

- Ông Trần Văn T và bà Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014051 ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, đương sự đã nộp đủ tiền.

- Ông Trần Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014172 ngày 25/5/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, đương sự đã nộp đủ tiền.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 924/2023/HC-PT ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 924/2023/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Văn T khiếu kiện quyết định hành chính về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger