|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 922/2025/DS-PT
Ngày: 24/11/2025
V/v: Tranh chấp mốc giới
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Liên Anh |
| Các Thẩm phán: | Ông Chu Tuấn Anh Bà Nguyễn Thu Huyền |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Trịnh Phạm Phương Thảo, Thư ký Tòa án |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: | Ông Nguyễn Mạnh Thắng, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. |
Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 539/2025/TLPT-DS ngày 30/7/2025 về việc “Tranh chấp mốc giới”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 704/2025/QĐ-PT ngày 24/9/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 784/2025/QĐPT-HPT ngày 30/9/2025; Thông báo mở lại phiên toà số 736/TB-TA ngày 28/10/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 631/2025/QĐPT-HPT ngày 07/11/2025; Thông báo mở lại phiên tòa số 825/2025/TB-TA ngày 18/11/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Khuất Hồng T, sinh năm 1988;
Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội. Nay là xã T, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T và bà T1: Công ty L1; Trụ sở: 102, đường L, phường H, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện theo pháp luật Công ty L1: Luật sư Vũ Kim H, Giám đốc điều hành;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Hoàng D, sinh năm 2000; Địa chỉ: Tầng D, số C đường T, phường K, Thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn:
- - Ông Dương Đức T2, sinh năm 1972;
- - Bà Khuất Thị T3, sinh năm 1976;
- Địa chỉ: Số B, đường L, thôn C, xã T, Thành phố Hà Nội.
- - Ông Dương Thế K, sinh năm 1962;
- - Bà Đinh Thị H1, sinh năm 1974;
- Địa chỉ: Số B, ngõ A, phố P, phường B, Thành phố Hà Nội.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Khuất Thị L, sinh năm 1949;
- Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội - Nay là xã T, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo ủy quyền của Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3, bà Khuất Thị L: Ông Khuất Duy V, sinh năm 1953; Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội - Nay là xã T, Thành phố Hà Nội.
- - Ủy ban nhân dân huyện T, Thành phố Hà Nội - nay là Ủy ban nhân dân xã T, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo pháp luật: ông Lê Minh Đ, Chủ tịch UBND xã T.
Do có kháng cáo của bà Khuất Thị T3, ông Dương Đức T2, bà Đinh Thị H1, ông Dương Đức K1 là bị đơn, ông Khuất Duy V là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Diện tích đất hiện đang tranh chấp với các hộ liền kề thuộc thửa đất số 826, tờ bản đồ số 13, địa chỉ tại xã Đ, huyện T, được Sở T5 (Sở TNMT) Thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Gọi tắt là "Giấy chứng nhận") số: CS 812191 ngày 01/8/2019. Ông T, bà T3 có được quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên thông qua việc nhận chuyển nhượng từ ông Khuất Duy T4 và bà Nguyễn Thị M theo Hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất được công chứng ngày 17/7/2019 bởi Văn phòng công chứng (VPCC) Quốc Dân.
Thửa đất mà nguyên đơn nhận chuyển nhượng được tách ra từ thửa đất số 544, tờ bản đồ số 13, tổng diện tích 276m² và được Sở TNMT cấp Giấy chứng nhận số: CM 101393. Trước khi chuyển nhượng, ông T4 và bà M đã nộp đơn đề nghị tách thửa đến Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện T (Sau đây gọi Văn phòng ĐKĐĐ huyện T). Theo đó, đề nghị tách thửa đất số 544 trên thành 03 thửa như sau:
- Thửa số 544-1, tờ bản đồ số 13, diện tích 76m² đất ở;
- Thửa số 544-2, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m² đất ở;
- Thửa số 544-3, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m² đất ở.
Kèm theo Đơn đề nghị là các tài liệu: Giấy chứng nhận số: CM 101393 do Sở T5 cấp ngày 29/03/2018 và Hồ sơ kỹ thuật thửa đất do Công ty TNHH V1 lập ngày 20/5/2019.
Ngày 03/7/2019, Văn phòng ĐKĐĐ huyện T đã ra Công văn số 2640 thông báo đề nghị tách thửa đối với thửa đất số 544 là phù hợp, đúng quy định và đề nghị ông T4, bà M liên hệ với các VPCC trên địa bàn Hà Nội để thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất. Ông T4, bà Mai sau đó đã chuyển nhượng các thửa đất được tách cho nguyên đơn và các bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.
Ông Dương Thế K, bà Đinh Thị H1 sau khi nhận chuyển nhượng thửa 544-2 đã được Sở TNMT Thành phố T5 cấp Giấy chứng nhận số CS 812190 đối với thửa đất số 825, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m². Ông Dương Đức T2 và bà Khuất Thị T3 cũng đã được cấp Giấy chứng nhận số CS 812189 đối với thửa đất số 824 (trước đây là thửa số 544-1), tờ bản đồ số 13, diện tích 76m².
Trên hồ sơ kĩ thuật thửa đất và các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đều thể hiện đầy đủ các mốc giới, chiều dài các cạnh và diện tích các thửa. Tuy nhiên, bị đơn vẫn tiến hành xây dựng nhà ở vượt ra ngoài ranh giới thửa đất mà mình quản lý, sử dụng và lấn sang phần đất của nguyên đơn ở các cạnh tạo thành bởi mốc 5, 6, 8, 9, 10.
Do không trực tiếp sinh sống trên đất nên cho đến khoảng từ giữa tháng 5 đến tháng 6 năm 2023, trong một lần về kiểm tra tình trạng tài sản và qua lời kể của người dân xung quanh, nguyên đơn mới biết về việc lấn chiếm đất của các bị đơn. Hiện nay, một phần nhà ở kiên cố do bị đơn xây dựng đã lấn sang phần đất do nguyên đơn quản lý, sử dụng; phần diện tích bị lấn chiếm là 41.1m², diện tích đất còn lại của nguyên đơn là 58.9m².
Nguyên đơn đã nhiều lần đề nghị các bị đơn trả lại phần đất đã lấn chiếm và đưa vụ việc ra chính quyền địa phương nhờ hòa giải nhưng phía bị đơn đều không thiện chí giải quyết, cho rằng hành vi của mình là không trái pháp luật. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc các bị đơn sử dụng đúng ranh giới thửa đất; chấm dứt hành vi sử dụng đất trái phép và tháo dỡ các công trình lấn chiếm, trả lại cho nguyên đơn diện tích đất đã lấn chiếm thuộc thửa 826, tờ bản đồ số 13 tại xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội.
Ông Khuất Duy V là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Dương Đức T2, Khuất Thị T3, Khuất Thị L trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 826, 825, 824 đều thuộc tờ bản đồ số 13, xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội là của gia đình nhà ông Khuất Duy T4 và bà Nguyễn Thị M. Ông T4, bà M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nói trên.
Năm 2019, ông T4, bà M chuyển nhượng cho ông K, bà H1 100m² đất và ông T4, bà T3 76m² đất trong thửa đất nói trên của vợ chồng ông Khuất Duy T4, bà Nguyễn Thị M. Ngoài ra, thửa đất trên của gia đình bà M, ông T4 cũng đã chuyển nhượng cho ông T, bà T3 100m² trước đó. Vì vậy, trên thực tế thửa đất nhà ông T4, bà M chuyển nhượng toàn bộ diện tích thửa đất nói trên cho vợ chồng ông T, vợ chồng ông Dương Đức T2, vợ chồng ông K. Cả 03 gia đình nhận chuyển nhượng đều đã hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng. Cả 03 thửa đất của 03 gia đình chuyển nhượng chỉ có một số cây ăn quả và không có công trình kiến trúc gì trên đất. Sau khi nhận chuyển nhượng thì thửa đất của vợ chồng ông K, bà H1 đã tiến hành xây nhà hết đất phía giáp ranh với đất nhà ông T, bà T3. Sau khi nhận chuyển nhượng thì thửa đất của vợ chồng ông T2, bà T3 đã tiến hành xây tường bao phía giáp với đất của gia đình ông T, bà H1.
Khi các bên xây dựng các công trình kiến trúc trên đất để xác định ranh giới thì cả 03 gia đình đều có mặt và đại diện gia đình nhà ông T thì có ông T tham gia chứng kiến nhưng đều không có lập biên bản mốc giới. Phía bị đơn không đồng ý với việc nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn chiếm mốc giới và yêu cầu trả lại vì bị đơn không lấn chiếm đất của gia đình ông T, bà T3.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Khuất Hồng T và bà Nguyễn Thị T1 về việc tranh chấp mốc giới quyền sử dụng đất cụ thể như sau:
Xác định mốc giới ngăn cách giữa thửa đất số 826, tờ bản đồ số 13 tại xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội của ông T, bà T1 và thửa đất số 824, tờ bản đồ số 13 tại xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội của ông Dương Đức T2 và bà Khuất Thị T3 được giới hạn bởi các điểm 5, 6(có sơ đồ cụ thể kèm theo).
Xác định mốc giới ngăn cách giữa thửa đất số 826, tờ bản đồ số 13 tại xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội của ông T, bà T3 và thửa đất số 825, tờ bản đồ số 13 tại xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội của ông Dương Thế K và bà Đinh Thị H1 được giới hạn bởi các điểm 1, 6 (có sơ đồ cụ thể kèm theo).
Buộc ông Dương Thế K và bà Đinh Thị H1 phải tháo dỡ phần ngôi nhà hai tầng đã xây trên đất nhà ông T, bà T3 có diện tích 24,4m² (được giới hạn bởi các điểm 4, 5, 6, 7) và trả lại phần diện tích 24,4m² đất cho ông T bà T3.
Buộc ông Dương Đức T2 và bà Khuất Thị T3 phải tháo dỡ phần tường ngăn đã xây dựng lên phần đất nhà ông T, bà T3 có chiều dài 4,12m chiều cao 1,1m và trả lại phần diện tích 14,7m² đất cho ông T bà T3.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không nhất trí với quyết định của Bản án sơ thẩm Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Khuất Duy V, bị đơn là bà Khuất Thị T3, ông Dương Đức T2, bà Đinh Thị H1, ông Dương Đức K1 kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
* Nguyên đơn ông Khuất Hồng T, bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Theo bản án sơ thẩm vợ chồng bà H1 phải trả lại 24,4m², vợ chồng ông T2 phải trả lại 14,4m² cho vợ chồng ông T. Do diện tích phải trả lại cho vợ chồng ông T thì gia đình bà H1 đã xây nhà bê tông kiên cố, để tạo điều kiện cho gia đình bà H1 không phải phá dỡ nhà vợ chồng ông T thống nhất phương án hòa giải như sau:
Thửa đất 824 thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông T2 có diện tích đo thực tế là 72,6m². Theo GCNQSDĐ là 76m². Vợ chồng ông T sẽ nhận diện tích 14,4m² do vợ chồng ông T2 trả theo quyết định của bản án sơ thẩm.
Đối với diện tích 24,4m² vợ chồng bà H1 phải trả thì vợ chồng ông T sẽ nhận diện tích này tại thửa đất số 824.
Sau khi trích trả diện tích thửa đất 824 còn: 72,6m² - 24,4m² -14,4m² = 33,8m² (diện tích rãnh không tính tiền).
Vợ chồng ông T2 đồng ý chuyển nhượng phần diện tích 33,8m² còn lại cho vợ chồng ông T với giá là 20.000.000/m². Theo đó vợ chồng ông T sẽ thanh toán cho vợ chồng ông T2 số tiền là 676.000.000 đồng. Gia đình ông T hỗ trợ gia đình ông T2 bà T1 số tiền là 30.000.000 đồng. Tổng là 706.000.000 đồng. Như vậy vợ chồng ông T có quyền sử dụng 72,2m² (57,8m² + 14,4m²) của thửa 826 và 58,2m² của thửa 824.
Đề nghị HĐXX ghi nhận vợ chồng ông T có quyền sử dụng 72,2m² thuộc thửa 826 và 58,2m² thuộc thửa 824.
Vợ chồng ông T đã giao đủ 706.000.000 đồng cho vợ chồng ông T2. Có biên bản giao nhận tiền nộp HĐXX.
* Bị đơn ông Dương Thế K, bà Đinh Thị H1 trình bày:
Diện tích đo thực tế nhà ông bà xây dựng có lấn sang thửa đất 824 và phần rãnh chừa ra không xây nên tổng diện tích sử dụng là 126,3m². Ông bà thống nhất phương án hòa giải như phía nguyên đơn trình bày. Ông bà sẽ trích trả cho nguyên đơn phần đất lấn chiếm tại thửa đất số 824 của nhà ông T2. Ông bà sẽ thanh toán tiền cho ông T2 diện tích xây lấn sang và phần đất trích trả cho ông T. Như vậy vợ chồng ông bà có quyền sử dụng 100m² của thửa 825; 11,1m² của thửa 824; 24,4m² của thửa 826 đề nghị HĐXX ghi nhận.
* Bị đơn ông Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 trình bày:
Vợ chồng ông bà đồng ý trích trả diện tích đất lấn chiếm cho vợ chồng ông T 14,4m². Trích trả hộ cho vợ chồng bà H1 24,4m² tại phần diện tích đất của thửa 824 của vợ chồng ông bà và cho bà H1 thanh toán diện tích 11,1m² xây chồng lấn sang thửa 824. Diện tích đất còn lại 33,8m² ông bà đồng ý chuyển nhượng cho vợ chồng ông T với giá 20.000.000 đồng/m². Nhận hỗ trợ từ nhà ông T bà T3 30.000.000 đồng. Vợ chồng ông K bà H1 hỗ trợ 71.400.000 đồng. Phần diện tích còn lại ông bà không yêu cầu vợ chồng ông T thanh toán tiền và thống nhất để làm rãnh thoát nước. Đề nghị tòa công nhận vợ chồng ông T có toàn quyền sử dụng đối với thửa đất 824 diện tích 58,2m² và bà H1 được quyền sử dụng 11,1m² thuộc thửa 824. Việc thanh toán tiền giữa gia đình ông bà và gia đình bà H1 hai bên tự giải quyết. Vợ chồng ông bà đã nhận đủ 706.000.000 đồng do vợ chồng ông T thanh toán. Vợ chồng ông bà không còn quyền lợi gì đối với thửa đất số 824 nêu trên.
* Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Khuất Duy V trình bày:
Thống nhất với ý kiến của ông Khuất Hồng T, bà Nguyễn Thị T1; ông Dương Thế K, bà Đinh Thị H1; ông Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
- - Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội theo hướng ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hình thức:
Đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Khuất Duy V, bị đơn là bà Khuất Thị T3, ông Dương Đức T2, bà Đinh Thị H1, ông Dương Đức K1 nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.
Về nội dung:
Ông Khuất Hồng T và bà Nguyễn Thị T1 đang quản lý thửa đất số 826, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m² (đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 812191 ngày 01/8/2019). Ông Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 đang quản lý thửa đất số 824, tờ bản đồ số 13, diện tích 76m² (đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 812189 ngày 01/8/2019). Ông Dương Thế K, bà Đinh Thị H1 đang quản lý thửa đất số 825, tờ bản đồ số 13, diện tích 100m² (đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 812190 ngày 01/8/2019). Địa chỉ ba thửa đất trên ở xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội. Nguồn gốc đất đều được tách từ thửa số 544, tờ bản đồ số 13 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 101393 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T5 cấp ngày 29/03/2018.
Tại phiên tòa nguyên đơn khẳng định các bị đơn xây dựng công trình và sử dụng tổng diện tích 38,8m² đất lấn sang thửa đất số 826 của nguyên đơn theo hồ sơ trích đo thửa đất ngày 07/5/2024 của Công ty TNHH Đ2.
Căn cứ vào kết quả đo đạc thẩm định tại chỗ thì hiện tại thửa đất số 826 của nguyên đơn đang sử dụng có diện tích thực tế là 57,8m², thửa đất số 824 của ông T2 và bà T3 đang sử dụng có diện tích thực thế là 72,6m², thửa đất số 825 của ông K và bà H1 đang sử dụng có diện tích thực thế là 126,3m². Đối chiếu 04 hồ sơ kỹ thuật thửa đất (phục vụ cho công tác tách thửa và công tác cấp GCN QSDĐ) ngày 20/5/2019 của các thửa đất số 544, 544-1, 544-2, 544-3 và các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 812190, CS 812190, CS 812191 ngày 01/8/2019 thì ông T và bà T3 đang sử dụng thiếu 42,2m². Trong đó, diện tích đất bà H1, ông K lấn chiếm thửa 826 là 24,4m² và ông T2, bà T3 lấn chiếm thửa 826 là 14,4m². Những phần còn thiếu của thửa 826 có liên quan đến những thửa đất khác phía bị nguyên đơn không đề nghị xem xét giải quyết nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
Nguyên nhân ông T2 và bà T3 đang sử dụng thiếu 3,4m²; ông K và bà H1 đang sử dụng thừa 26,3m² là do giữa hai gia đình đã không sử dụng đúng mốc giới được giao quyền sử dụng và có liên quan đến mốc giới của các thửa đất khác. Các đương sự không yêu cầu giải quyết tranh chấp đối với các diện tích đất này nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chỉ đề nghị Tòa án xác định lại phần ranh giới tiếp giáp với thửa đất của đồng bị đơn theo đúng hồ sơ cấp GCNQSDĐ đã được Sở T5 cấp năm 2019.
Từ những tài liệu chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xác định: phần diện tích thửa đất số 825 lấn sang thửa đất số 826 là 24,4m² (trên sơ đồ phân định mốc giới kèm theo Bản án là phần đất được giới hạn bởi các điểm 3,4, 5, 6, 3) và phần diện tích thửa đất số 824 lấn sang thửa đất số 826 là 14,4m² (trên sơ đồ phân định mốc giới kèm theo Bản án là phần đất được giới hạn bởi các điểm 1, 2,3,6,1) là có căn cứ nên được chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự tự nguyện thỏa thuận như sau:
Ông Khuất Hồng T, bà Nguyễn Thị T1
có quyền sử dụng 72,2m² thửa 826 và 58,2m² của thửa 824 tờ bản đồ số 13 xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội.
Ông Khuất Hồng T, bà Nguyễn Thị T1 đã thanh toán tiền nhận chuyển nhượng cho Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 số tiền 706.000.000 đồng.
Ông Dương Thế K, bà Đinh Thị H1
có quyền sử dụng 100m² của thửa 825; 11,1m² của thửa 824; 24,4m² của thửa 826 tờ bản đồ số 13 xã Đ, huyện T, Thành phố Hà Nội.
Việc thanh toán tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Dương Thế K, bà Đinh Thị H1 với vợ chồng ông Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 do hai bên tự giải quyết không đề nghị HĐXX ghi nhận.
Ông Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 xác nhận đã nhận đủ số tiền 706.000.000 đồng do vợ chồng ông T thanh toán.
Ông Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 không còn quyền lợi gì đối với thửa đất số 824 nêu trên.
Xét thấy, thoả thuận trên của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với quy định nên ghi nhận.
Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp GCN đối với diện tích được phân định theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Khuất Duy V, bị đơn là bà Khuất Thị T3, ông Dương Đức T2, bà Đinh Thị H1, ông Dương Đức K1.
Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm:
Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại dự phí kháng cáo đã nộp.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Dương Thế K là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm, bản án sơ thẩm buộc ông K phải chịu án phí là không đúng quy định nên cần sửa án sơ thẩm về án phí đối với ông K.
Ông Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 và bà Đinh Thị H1 mỗi người chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả ông Khuất Hồng T và bà Nguyễn Thị T1 18.330.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu, lệ phí Tòa án số 0017502 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất.
Về chi phí tố tụng và án phí: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện nộp chi phí tố tụng, nay nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ nên HĐXX không giải quyết.
Vì các lẽ trên, áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 163, 164, 166, 169, 174, 175, 176 Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Khoản 5, 7 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013.
- - Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 2 Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Khuất Hồng T và bà Nguyễn Thị T1 về việc tranh chấp mốc giới quyền sử dụng đất.
Ghi nhận thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Ông Khuất Hồng T, bà Nguyễn Thị T1
có quyền sử dụng 72,2m² thửa 826 và 58,2m² của thửa 824 tờ bản đồ số 13 xã Đ, huyện T, (nay là xã T) Thành phố Hà Nội. Được giới hạn bởi các điểm 4,5,6,7,8,9,10,11,4 trên sơ đồ kèm theo bản án.
Ông Khuất Hồng T, bà Nguyễn Thị T1 đã thanh toán cho Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 số tiền 706.000.000 đồng.
Ông Dương Thế K, bà Đinh Thị H1
có quyền sử dụng 100m² của thửa 825; 11,1m² của thửa 824; 24,4m² của thửa 826 tờ bản đồ số 13 xã Đ, huyện T, (nay là xã T) Thành phố Hà Nội. Được giới hạn bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,1 trên sơ đồ kèm theo bản án.
Việc thanh toán tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Dương Thế K, bà Đinh Thị H1 với vợ chồng ông Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 do hai bên tự giải quyết.
Ông Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 xác nhận đã nhận đủ số tiền 706.000.000 đồng do vợ chồng ông T thanh toán.
Ông Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 không còn quyền lợi gì đối với thửa đất số 824 nêu trên.
Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp GCN đối với diện tích được phân định theo quy định của pháp luật.
2 Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 và ông Dương Thế K bà Đinh Thị H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại dự phí đã nộp tại Biên lai thu số 0018139; 0018138 ngày 18/10/2024; 0018129 ngày 6/10/2024;
Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Dương Thế K được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Dương Đức T2, bà Khuất Thị T3 và bà Đinh Thị H1 mỗi người chịu 150.000 đồng.
Hoàn trả ông Khuất Hồng T và bà Nguyễn Thị T1 18.330.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu, lệ phí Tòa án số 0017502 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất.
Trường hợp Bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Liên Anh |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Các Thẩm phán |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
9
10
11
Bản án số 922/2025/DS-PT ngày 24/11/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về tranh chấp mốc giới
- Số bản án: 922/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp mốc giới
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khuất Hồng Thuyên - Khuất Thị Thúy
