Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 922/2024/DS-PT

Ngày: 11/11/2024

V/vtranh chấp đất đai theo quy

định của pháp luật đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Bùi Thị Kim Dung
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Thu
Bà Phạm Thị Kim

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 735/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật đất đai”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 490/2024/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5458/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 10 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Ông Lê Quang S, sinh năm 1974. (có mặt)

Địa chỉ: Số H đường T (đường C), tổ A, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1967.

Địa chỉ: Số H đường T (đường C), tổ A, ấp M, xã T, huyện C.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

Bà Đặng Tuấn Thảo U, sinh năm 1992. (có mặt)

Địa chỉ: Số B đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo hợp đồng ủy quyền số 004703 ngày 19/10/2024 lập tại Văn phòng C).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Thị Q, sinh năm 1976. (vắng mặt)

Địa chỉ: Số H đường T (đường C), tổ A, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Hứa Thị D, sinh năm 1969. (vắng mặt)

Địa chỉ: Số H đường T (đường C), tổ A, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hứa Thị D:

Luật sư Huỳnh Thanh D1, Văn phòng luật sư Phúc Gia A, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)

Địa chỉ: Số B đường số D, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 15/7/2019, Đơn khởi kiện ngày 23/8/2019 và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Lê Quang S trình bày:

Ông Lê Quang S là chủ sử dụng phần đất diện tích 220,9m² tại Thửa đất số 616, Tờ bản đồ số 95, xã T, huyện C theo Giấy chứng nhận số CI 817618, số vào sổ cấp GCN: CS 06555 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 01/8/2017 cho bà Nguyễn Thị Thúy A1, cập nhật chuyển nhượng cho ông S ngày 23/8/2017. Phần đất của ông S liền kề với thửa đất số 247-1, Tờ bản đồ 17 (Tài liệu 02/CT-UB), xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh của ông Nguyễn Văn N.

Quá trình sử dụng đất, ông N đã thay đổi ranh, cắm trụ kéo rào kẽm gai lấn sang phần đất của ông S diện tích 56m². Ông S có trao đổi với ông N về việc xác định ranh giới đất nhưng không được nên ông S nhờ Ủy ban nhân dân xã T, huyện C hòa giải cơ sở. Tại buổi hòa giải, ông S đề nghị đo đạc cắm ranh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho các bên, nhưng ông N không đồng ý. Vì vậy, ông S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông N tháo dỡ toàn bộ cột mốc, hàng rào và trả lại phần đất mà ông N đã lấn của ông S theo đúng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 817618, số vào sổ cấp GCN: CS 06555 ngày 01/8/2017.

Cùng đứng đơn khởi kiện với ông S còn có bà Nguyễn Thị H yêu cầu ông N tháo dỡ toàn bộ cột mốc, hàng rào và trả lại nguyên trạng phần đất mà ông N đã lấn. Tuy nhiên, bà H đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên Tòa án đã tách vụ án bằng Quyết định số 294/2021/QÐST-DS ngày 08/12/2021 và đình chỉ giải quyết vụ án theo Quyết định số 295/2021/QÐST-DS ngày 14/11/2021.

Tại Bản tự khai ngày 16/10/2019 và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:

Ông N có phần đất tọa lạc tại ấp M, xã T, huyện C diện tích 486m², Thửa đất số 247-1, Tờ bản đồ số 17 (Tài liệu 02), bộ địa chính xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất số V615158, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 242/QSDĐ/HTH ngày 10/7/2002. Từ khi cha mẹ ông N cho đất đến nay, ông N đã sử dụng đất ổn định, hợp thức hóa giữa các anh em, mỗi người được cấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng, không lấn đất của ai. Do đó, ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông S.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Q thống nhất với ý kiến, yêu cầu của ông S.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hứa Thị D thống nhất với ý kiến, yêu cầu của ông N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 490/2024/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 96, khoản 1 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự;

Áp dụng khoản 1, khoản 16, khoản 24 Điều 3, khoản 1 Điều 26, khoản 5 Điều 166 của Luật Đất đai;

Áp dụng khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang S.

Buộc ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ tháo dỡ trụ rào trả lại cho ông S phần đất đã lấn ranh diện tích 56m² thuộc khu (1) Thửa 616-2, Tờ bản đồ 95 (Tài liệu năm 2004), xã T, huyện C trên Bản đồ hiện trạng, vị trí – áp ranh số hợp đồng: 25115/TTĐĐBĐ-CNCC (CS1) do Trung tâm Đo đạc bản đồ, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H phát hành ngày 12/5/2023, thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Sau đó, bị đơn ông Nguyễn Văn N kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn ông Nguyễn Văn N có người đại diện theo ủy quyền là bà Đặng Tuấn Thảo U và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là Luật sư Huỳnh Thanh D1 trình bày:

Đề nghị hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa thiếu người tham gia tố tụng là bà Nguyễn Thị Thúy A1, bà Lê Thị N1; bà A1, bà N1 là người đã chuyển nhượng thửa đất số 616 cho nguyên đơn, cần triệu tập bà A1,

bà N1 để làm rõ diện tích thửa đất mà nguyên đơn đã nhận chuyển nhượng. Ngoài ra, Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 12/5/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ cũng chưa áp ranh các giấy chứng nhận hai thửa đất của nguyên đơn, bị đơn; chưa thể hiện được vị trí phần đất tranh chấp nằm ở đâu nên cần phải hoãn phiên tòa để tiến hành đo vẽ lại.

Nguyên đơn ông Lê Quang S trình bày:

Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hứa Thị D vắng mặt tại phiên tòa. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà D là Luật sư Huỳnh Thanh D1 trình bày:

Thống nhất với yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Q vắng mặt tại phiên tòa.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn ông Nguyễn Văn N kháng cáo cho rằng phần đất đang tranh chấp đã được ông N sử dụng ổn định từ đó cho đến nay, đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/7/2002.

Nguyên đơn ông Lê Quang S xác định phần đất tranh chấp mà bị đơn đang sử dụng đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 06555 ngày 09/8/2017, cập nhật sang tên cho ông S ngày 23/8/2017. Ông S yêu cầu ông N phải tháo dỡ toàn bộ cột mốc, hàng rào và trả lại nguyên trạng phần đất mà ông N đã lấn của ông S.

[2] Hội đồng xét xử nhận thấy, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 817618, số vào số cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 06555 của Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị Thúy A1 ngày 09/8/2017, cập nhật biến động ngày

23/8/2017 do chuyển nhượng cho ông Lê Quang S thì ông S là chủ sử dụng hợp pháp đối với phần đất có diện tích 220,9m², thuộc Thửa số 616, Tờ bản đồ số 95 tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về nguồn gốc của 220,9m² đất thuộc Thửa số 616 trước đây do bà Thúy A1 nhận thừa kế từ cha là ông Nguyễn Văn Đ (anh ông Nguyễn Văn N). Tại bản vẽ nhà đất do Công ty TNHH X lập ngày 26/04/2017 xác định diện tích 220,9m² thuộc Thửa 247-2-1, Tờ bản đồ số 17 theo tài liệu số 02/CT-UB, đối chiếu theo tài liệu 2003 là thửa 230-1. Tại tờ trình và hồ sơ đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận đối với thửa đất số 230, Tờ bản đồ 95 thể hiện: “Thửa đất 616, tờ bản đồ 95 (theo BĐ KTS) có diện tích 220,9m² để thừa kế cho bà Nguyễn Thị Thúy A1 nhằm một phần của Thửa 247-2, Tờ bản đồ số 17 (TL 02/CT-UB)". Như vậy, quá trình bà A1 sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng quy định về trình tự thủ tục. Diện tích đất từ khi được cấp giấy chứng nhận đến khi thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông S là đúng diện tích 220,9m² từ thửa 230, nay là Thửa 616, Tờ bản đồ số 95, không có sự thay đổi diện tích.

[3] Đối với nguồn gốc phần đất có diện tích 486m² tại thửa 247-1, Tờ bản đồ 17 (Tài liệu 02/CT-UB) theo Giấy chứng nhận số V 615158, số vào sổ GCN số 242 QSDĐ/HTH do UBND huyện C cấp ngày 10/7/2002 cho ông N: Giấy chứng nhận của ông N được cấp dựa trên Tờ tương phân ngày 14/5/2002 của cụ Nguyễn Thị T cho các con gồm ông Lê Văn N2, Nguyễn Thị P, Nguyễn Văn Đ và ông Nguyễn Văn N. Phần đất ông N được tương phân có diện tích 486m² thuộc một phần Thửa 247, Tờ bản đồ số 17 (Tài liệu 02/CT-UB), xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản vẽ sơ đồ hiện trạng do Xí nghiệp Đo đạc bản đồ địa chính, Công ty QLKTDV Thủy Lợi Thành phố H lập theo Hợp đồng số 02743/HĐ-XNĐĐ ngày 22/02/2002.

Như vậy, cả ông S và ông N đều đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất.

[4] Căn cứ bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh được lập bởi Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H ngày 12/5/2023, sau khi tiến hành áp ranh theo các giấy chứng nhận và ranh giới khu đất hiện trạng do ông S, ông N đang thực tế sử dụng, có căn cứ xác định phần đất đang tranh chấp có diện tích 56m² mà ông N đang sử dụng thuộc thửa 616-2 (theo tài liệu năm 2004), nằm hoàn toàn trong diện tích được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S. Diện tích đất thực tế mà ông S đang sử dụng là thiếu so với giấy chứng nhận. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S, buộc ông N sử dụng đúng diện tích mà ông N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông N phải tháo dỡ hàng rào đã xây dựng, trả lại hiện trạng đúng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S – là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía ông N yêu cầu phải triệu tập bà Thúy A1, bà Lê Thị N1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ về việc chuyển nhượng phần đất giữa bà A1, bà N1 và ông S.

Xét, yêu cầu này là không có cơ sở để chấp nhận bởi lẽ không có ai tranh chấp đối với việc chuyển nhượng giữa bà A1, bà N1 và ông S trong vụ án này. Chính ông N cũng không có yêu cầu về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông S.

Việc ông N yêu cầu đo vẽ lại vì cho rằng bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh ngày 12/5/2023 chưa áp ranh các giấy chứng nhận, chưa thể hiện được vị trí phần đất tranh chấp. Yêu cầu này của ông N là không có cơ sở để chấp nhận vì trên Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh được lập bởi Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H ngày 12/5/2023 đã thể hiện rất rõ việc áp ranh các giấy chứng nhận, thể hiện rõ phần đất hiện trạng mà các bên sử dụng trên thực tế và phần đất tranh chấp được thể hiện tại vị trí số (1) tại Bảng thống kê diện tích có diện tích 56m² nằm hoàn toàn trên giấy chứng nhận của ông S.

Tại phần nhận định của án sơ thẩm có xác định thửa đất số 616, thuộc tờ bản đồ số 96 mà không phải thuộc tờ bản đồ số 95 chỉ là sơ suất trong đánh máy, không phải xác định sai đối tượng tranh chấp như phía ông N trình bày. Tại phần quyết định của bản án sơ thẩm cũng đã xác định đúng vị trí thửa đất số 616 thuộc tờ bản đồ số 95.

[6] Từ những phân tích nêu trên, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 26, 35, 184, điểm e khoản 1 Điều 217, Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1, khoản 16, khoản 24 Điều 3, khoản 1 Điều 26, khoản 5 Điều 166 của Luật Đất đai;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật thi hành án;

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang S.

Buộc ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ tháo dỡ trụ rào trả lại cho ông S phần đất đã lấn ranh có diện tích 56m² thuộc khu (1) Thửa 616-2, Tờ bản đồ 95 (Tài liệu năm 2004), xã T, huyện C trên Bản đồ hiện trạng, vị trí – áp ranh số hợp

đồng: 25115/TTĐĐBĐ-CNCC (CS1) do Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H phát hành ngày 12/5/2023.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn N phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Ông Lê Quang S không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho ông S số tiền tạm ứng án phí đã nộp 875.000 (T1 trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai số AA/2019/0022568 ngày 08/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Nguyễn Văn N phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông N đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0015797 ngày 01/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Cục Thi hành án dân sự TP.Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân huyện Củ Chi;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Kim Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 922/2024/DS-PT ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật đất đai

  • Số bản án: 922/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger