|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 922/2023/HS-PT Ngày 15/11/2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
|
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: |
|
|
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: |
Ông Mai Văn Quang |
|
Các Thẩm phán: |
Ông Hoàng Văn Thành Ông Nguyễn Đăng Phong |
|
- Thư ký phiên toà: |
Bà Hoàng Thị Thu Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội |
|
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: |
Bà Lê Thị Thu Hương - Kiểm sát viên |
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 779/2023/HSPT ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 144/2023/HSST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Th, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1981; nơi thường trú: Đội 1, xã Tả Thanh Oai, huyện Th, Hà Nội; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đào V và bà Lê Thu L; vợ Nguyễn Thị Kim Nh (đã ly hôn) và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 28/06/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận H, thành phố Hà Nội đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Đình T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/06/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại không kháng cáo: Chị Phan Thị A, sinh năm 1993; Nơi thường trú: Xóm 5, xã Diễn Xuân, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Thôn Hưng Phúc, xã G, huyện S, Bắc Ninh;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Th, Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân huyện Th, Hà Nội thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua các mối quan hệ xã hội, Nguyễn Thanh T có quen biết với anh Vương Viết Quang, T nói với anh Quang là T làm ở lĩnh vực xuất khẩu lao động cho các công ty, nếu ai có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan thì anh Quang giới thiệu cho T để làm thủ tục, sau đó T sẽ chia phần trăm hoa hồng. Khoảng tháng 10/2022, anh Quang biết chị Phan Thị A có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nên anh Quang giới thiệu chị A cho T. Khi các bên gặp nhau, T hứa sẽ hướng dẫn và làm các thủ tục để chị A được đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan với chi phí là 158.000.000 đồng, thời hạn đi xuất khẩu lao động ít nhất là 03 năm với mức lương cơ bản là 21.000.000 đồng/tháng và cam kết đến ngày 02/12/2022 sẽ làm xong hết thủ tục cho chị A.
Theo thỏa thuận, để Nguyễn Thanh T tư vấn và làm các thủ tục cho chị Phan Thị A được đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, chị A đã chuyển tiền cho T như sau: Ngày 04/10/2022, chị A đưa trực tiếp cho T số tiền 2.000.000 đồng đặt cọc; Ngày 15/10/2022, chị A đưa trực tiếp cho anh Vương Viết Quang số tiền 8.000.000 đồng để anh Quang chuyển từ tài khoản 199819909999 ngân hàng MB đến tài khoản số 19036730070018 ngân hàng Techcombank của T; Ngày 25/10/2022, Chị A đưa trực tiếp cho anh Quang 02 lần, lần thứ nhất đưa 10.000.000 đồng và lần thứ hai đưa 5.000.000 đồng, anh Quang chuyển cho T 10.000.000 đồng sau đó chuyển tiếp 5.000.000 đồng để nộp cho chị A; Ngày 15/11/2022, chị A đưa trực tiếp cho anh Vương Viết Quang số tiền 2.000USD (tương đương 50.000.000 đồng) để anh Quang đưa trực tiếp cho T; Ngày 25/11/2022, chị A đưa trực tiếp cho anh Vương Viết Quang 20.000.000 đồng để anh Quang chuyển khoản từ tài khoản số [...] ngân hàng MB đến tài khoản số 19036730070018 ngân hàng Techcombank của T; Ngày 30/11/2022, chị A chuyển khoản số tiền 63.000.000 đồng từ tài khoản 923061998 ngân hàng MB đến tài khoản số 19036730070018 ngân hàng Techcombank của T. Như vậy, chị A đã chuyển cho Nguyễn Thanh T tổng số tiền 158.000.000 đồng. Các lần giao nhận tiền đều diễn ra tại nhà T ở Đội 1, xã Tả Thanh Oai, huyện Th, Hà Nội.
Sau khi nhận số tiền trên, T chuyển cho anh Vương Viết Quang 12.500.000 đồng tiền môi giới. Trong quá trình chị A chuyển tiền cho T thì T có gửi chị A 01 bộ file tài liệu do T lấy được trên mạng Internet gồm Hợp đồng đưa người đi làm việc ở nước ngoài; Bảng kê chi phí của người lao động trước khi đi làm việc tại Đài Loan; Hướng dẫn hồ sơ, bài thi tiếng Trung, tất cả các tài liệu trên đều ghi của Công ty cổ phần Nhân lực thương mại quốc tế SNG. Ngoài ra, T không làm bất kỳ thủ tục gì để chị A được đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, T tiêu xài hết số tiền chiếm đoạt được rồi trốn tránh chị A.
Khi đến hạn nhưng không được đi xuất khẩu lao động, nghi ngờ bị Nguyễn Thanh T lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 21/12/2022, chị Phan Thị A đến Công an huyện Th trình báo vụ việc và giao nộp 01 giấy cam kết đề ngày 11/12/2022 có chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thanh T.
Ngày 10/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Th đã trưng cầu giám định chữ viết, đường vân của Nguyễn Thanh T so với chữ viết, đường vân trên giấy cam kết đề ngày 11/12/2022 do chị A cung cấp.
Tại bản kết luận giám định số 1465/KL - KTHS ngày 17/03/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thanh T (dưới chữ ký) trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) với chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thanh T (dưới chữ ký) trên mẫu so sánh (ký hiệu M) là chữ do cùng một người ký và viết ra”.
Về dân sự: Ngày 03/07/2022, gia đình Nguyễn Thanh T đã bồi thường cho chị Phan Thị A số tiền 158.000.000 đồng, chị A không yêu cầu về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Thanh T.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 144/2023/HSST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Th, thành phố Hà Nội đã xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/9/2023, bị cáo Nguyễn Thanh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thành khẩn nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại, kết luận giám định chữ viết và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức án 36 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết gì mới để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Mặc dù không có chức năng và khả năng đưa người đi xuất khẩu lao động, nhưng Nguyễn Thanh T đã đưa ra các thông tin gian dối về việc T có thể đưa người đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan để chị Phan Thị A tin tưởng, chuyển cho T số tiền 158.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, T không thực hiện như cam kết, chiếm đoạt số tiền của chị A để chỉ tiêu cá nhân và trốn tránh, không liên lạc với chị A.
Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm trừng phạt, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt tù có thời hạn và không cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội là đúng. Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm tội, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt; bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có công với cách mạng. Với tình tiết nêu trên, xét thấy mức án 36 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Do đó, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xử:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2023.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 15/11/2023.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Quang |
Bản án số 922/2023/HS-PT ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 922/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T phạm tội theo khoản 2 Điều 174 BLHS
