Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 922/2023/HC-PT

Ngày 23 – 10 – 2023

V/v Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại, hành vi không ban hành quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Phạm Thị Út – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 45/2023/TLPT-HC ngày 01/02/2023 về “Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại, hành vi không ban hành quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 65/2022/HC-ST ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2544/2023/QĐ-PT ngày 06/10/2023, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1974;
  2. Địa chỉ: Tổ A, khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn A, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).

  3. Người bị kiện:
  4. 2.1. Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

    2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

    Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Lê Quốc T – Phó Chủ tịch là người đại diện theo ủy quyền (có đơn xin vắng mặt);

    Cùng địa chỉ: Số D, đường C, khu phố B, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Quang L – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P (có đơn xin vắng mặt).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Trách nhiệm hữu hạn M;
  6. Người đại diện hợp pháp của Công ty: Ông Phạm Quốc Q – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật.

    Địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà S P, khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

  7. Người kháng cáo: Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Văn C và người đại diện ông Trần Văn A trình bày:

Năm 1994, ông Nguyễn Văn C cùng ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Vũ N cùng nhận chuyển nhượng một khu đất của ông Nguyễn Văn T1 tại ấp F (nay là khu phố F), phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Do thời điểm này các ông không có hộ khẩu thường trú ở địa phương nên ông nhờ ông Phạm Văn P đứng tên trên giấy tờ. Trên thực tế sau khi ông P làm giấy chuyển nhượng đất với ông T1 thì các ông là người sử dụng đất. Phần ông C sử dụng diện tích 7.448,9m².

Ngày 27/6/2014, Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện P (nay là thành phố P) ra Quyết định số 3226/QĐ-UBND thu hồi diện tích đất 6.376,80m² loại đất trồng cây lâu năm, tại khu phố F, phường A, thành phố P của ông Nguyễn Văn C để thực hiện dự án khu phức hợp du lịch sinh thái Bãi Khem do Công ty TNHH một thành viên M đầu tư.

Ngày 08/8/2014, UBND thành phố P ra Quyết định số 4049/QĐ-UBND bồi thường, hỗ trợ cho ông C số tiền 3.676.860.000 đồng.

Cùng ngày 27/6/2014, UBND thành phố P ra Quyết định số: 3227/QĐ-UBND thu hồi đất diện tích 516,4m² của ông C, loại đất trồng cây lâu năm, tại khu phố F, phường A, thành phố P. Nhưng không ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích này.

Ngoài diện tích có quyết định thu hồi ông C còn diện tích đất 555,7m² là phần cái ao nằm giữa khu đất của ông C bị thu hồi theo quyết định số 3226/QĐ-UBND ngày 27/6/2014, UBND thành phố P không ban hành Quyết định thu hồi đất và cũng không bồi thường.

Ông C không đồng ý việc UBND không ra quyết định thu hồi diện tích đất 555,7m² để bồi thường và không ra quyết định bồi thường đối với diện tích đất 516,4m² bị thu hồi theo quyết định số 3227/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 nên làm đơn khiếu nại yêu cầu UBND thành phố P phải ra quyết định bồi thường đối với diện tích đất 1.072m² có quyết định và không có quyết định thu hồi.

Ngày 12/6/2018, Chủ tịch UBND thành phố P ra Quyết định số 1826/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông C. Tại Quyết định này Chủ tịch UBND thành phố P xác định diện tích đất 1.072m², ông C bắt đầu sử dụng vào năm 2005 là không đủ điều kiện bồi thường nên không chấp nhận khiếu nại của ông C.

Ông Nguyễn Văn C yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Hủy Quyết định số 1826/QĐ-UBND ngày 12/6/2018 về việc giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thành phố P, không yêu cầu Chủ tịch UBND thành phố P giải quyết khiếu nại lại.
  • - Buộc UBND thành phố P ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông C diện tích đất 516,4m² theo quy định của pháp luật.
  • - Buộc UBND thành phố P ban hành Quyết định thu hồi và Quyết định bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông C diện tích đất 555,7m² theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông C rút lại yêu cầu buộc UBND thành phố P ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông C diện tích đất 516,4m² và rút lại yêu cầu buộc UBND thành phố P ban hành Quyết định thu hồi và Quyết định bồi thường, hỗ trợ cho ông C diện tích đất 555,7m² theo quy định của pháp luật.

Tại văn bản số 656/UBND-NCPC ngày 25/10/2019, UBND thành phố P xác định:

Ông C có diện tích đất 7.448,9m² nằm trong phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu du lịch sinh thái B tại khu phố F, phường A, thành phố P. Theo phương án ông C có diện tích đất 6.376,8m² (nằm trong diện tích đất 7.448,9m²) được bồi thường, hỗ trợ quyền sử dụng đất do có quá trình sử dụng từ trước năm 1994.

Diện tích đất 1.072,1m² không được bồi thường. Nguồn gốc diện tích đất 1.072,1m² trước năm 2005 ông C chưa sử dụng. Năm 2005, ông C vào diện tích đất này sử dụng cho đến khi nhà nước qui hoạch.

Ngày 27/6/2014, UBND thành phố P ra quyết định số 3226/QĐ-UBND và Quyết định số 3227/QĐ-UBND về việc thu hồi diện tích đất 6.376,8m² đối với ông C, phần diện tích 555,7m² (nằm trong diện tích đất 1.072,1m² đang khiếu nại) không ban hành quyết định thu hồi đất.

Sau khi thu hồi đất UBND thành phố Phú Quốc không bồi thường đối với diện tích đất 1.072,1m² nên ông C khiếu nại.

Ngày 12/6/2018, Chủ tịch UBND thành phố P ra quyết định số 1826/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông C: Không thừa nhận nội dung khiếu nại của ông C.

Việc UBND thành phố P không bồi thường quyền sử dụng đất diện tích 1.072,1m² là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007.

Do vậy, quyết định số 1826/QĐ-UBND ngày 12/6/2018 về việc giải quyết khiếu nại của ông C là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH M đã nhận thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có văn bản trả lời, cũng không tham gia tố tụng

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 65/2022/HC-ST ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, đã áp dụng: Các Điều 158, 173, 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 38 Luật Đất đai năm 2003; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C.
  2. Hủy Quyết định số 1826/QĐ-UBND ngày 12/6/2018 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn C. Chủ tịch UBND thành phố P không phải giải quyết khiếu nại lại.

  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C về việc buộc UBND thành phố P ra quyết định bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất 516,4m² và buộc UBND thành phố P ra quyết định thu hồi, bồi thường đối với diện tích đất 555,7m² theo đúng quy định pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P có làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm xét xử không thỏa đáng, đề nghị xét xử phúc thẩm lại theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa ngày 28/8/2023, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cho rằng, có một số người làm chứng xác định gia đình ông T1 khai thác, sử dụng ổn định có xác nhận của chính quyền địa phương. Ông C chuyển nhượng lại năm 1994 và đã sử dụng liên tục, lâu dài từ đó đến nay không ai tranh chấp. Ủy ban cho rằng đất do nhà nước quản lý nhưng không đưa ra được chứng cứ gì chứng minh. Do đó, người khởi kiện đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện cho rằng ông T1 chỉ trình bày là có chuyển nhượng nhưng không xác định được vị trí đất. Đối với phần đất đang tranh chấp có một phần thuộc ao và một phần đất trên núi, qua quá trình xác minh thì có lời khai của ông C1 cũng là một trong những người mua lại đất của ông T1 xác định ông C sử dụng vào năm 2005, 2006 nên không đủ điều kiện để bồi thường. Ngoài ra, ông C cũng đã rút lại yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị Ủy ban bồi thường, hỗ trợ đối với các phần đất này đồng nghĩa với việc ông C từ chối việc bồi thường, hỗ trợ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục kháng cáo:
  2. Sau khi xét xử sơ thẩm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P là người bị kiện làm Đơn kháng cáo đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 55, Điều 204, Điều 205, Điều 206, Điều 209, Điều 211, Điều 212, Điều 213 của Luật Tố tụng hành chính nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm.

  3. Về thủ tục tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
    1. Về sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 225 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
    2. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C thì vụ án có quan hệ tranh chấp “Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại, hành vi không ban hành quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất”.
    3. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và giải quyết đúng thẩm quyền được pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 3; khoản 1 Điều 30; Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

  4. Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
    1. Quyết định số 1826/QĐ-UBND ngày 12/6/2018 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn C ban hành đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền quy định của pháp luật.
    2. Về thời hạn: Quyết định số 1826/QĐ-UBND có vi phạm thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại Điều 28 của Luật Khiếu nại. Tuy nhiên, vi phạm này không làm thay đổi nội dung quyết định giải quyết khiếu nại nên người bị kiện cần rút kinh nghiệm.
    3. Về nội dung, Hội đồng xét xử xét thấy:
      1. Về đối tượng khởi kiện: Quyết định số 1826/QĐ-UBND ngày 12/6/2018 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn C được ban hành trên cơ sở ông C khiếu nại yêu cầu UBND thành phố P phải ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông đối với diện tích đất 516,4m² và ban hành Quyết định thu hồi, bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông diện tích đất 555,7m² theo quy định của pháp luật.
      2. Như vậy, các Quyết định số 3226/QĐ-UBND và Quyết định số 3227/QĐ-UBND cùng ngày 27/6/2014 của UBND thành phố P liên quan trực tiếp đến Quyết định số 1826/QĐ-UBND ngày 12/6/2018 của Chủ tịch UBND thành phố P (là đối tượng khởi kiện trong vụ án này).

        Mặc dù, người khởi kiện đã rút lại yêu cầu buộc UBND thành phố P ra quyết định bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất 516,4m² và buộc UBND thành phố P ra quyết định thu hồi, bồi thường đối với diện tích đất 555,7m² theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, khi xem xét tính hợp pháp và có căn cứ của quyết định bị khởi kiện, Tòa án cần phải xem xét tính hợp pháp của tất cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính bị khởi kiện. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định và quyết định hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 1695/QĐ-UBND ngày 23/5/2018 của Chủ tịch UBND thành phố P mà không xem xét cũng như không tuyên hủy các quyết định hành chính, hành vi hành chính có liên quan còn lại là có thiếu sót và vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 191, Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

      3. Về nguồn gốc diện tích đất ông Nguyễn Văn C khiếu nại: Ông C cho rằng 1.072,1m² không được bồi thường nằm trong phần diện tích đất 7.448,9m² ông đã mua của ông Nguyễn Văn T1 từ năm 1994.
      4. Khi thực hiện Dự án khu du lịch sinh thái B tại Khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang do Công ty TNHH M đầu tư. UBND thành phố P chỉ ra phương án bồi thường, hỗ trợ cho ông C diện tích 6.376,8m² (nằm trong diện tích đất 7.448,9m²) do có quá trình sử dụng từ trước năm 1994.

        Đối với diện tích 1.072,1m² đất (trong đó có phần diện tích 555,7m² không ban hành quyết định thu hồi đất), UBND thành phố P thì cho rằng ông C lấn chiếm sử dụng từ năm 2005. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của ông T1 cho rằng có chuyển nhượng phần diện tích đất này cho ông C năm 1994, là chưa đủ căn cứ xác định về nguồn gốc sử dụng đất.

      5. Đối với diện tích 516,4m² bị thu hồi theo Quyết định số 3227/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của UBND thành phố P nhưng không được bồi thường, hỗ trợ:
      6. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng, theo Công văn số 186/TTKT-KT của Trung tâm K ngày 05/11/2020 thì diện tích đất 1.072,1m² nằm ngoài diện tích cấp giấy cho Công ty TNHH M và khi giải quyết khiếu nại người bị kiện không xem xét xử lý đối với quyết định thu hồi đất số 3227/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 là chưa phù hợp. Trong khi phía UBND thành phố P thì xác định toàn bộ diện tích 7.448,9m² của ông C nằm trong phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án khu du lịch sinh thái Bãi Khem do Công ty TNHH M thực hiện, việc không ban hành quyết định thu hồi, bồi thường là do diện tích đất này bị lấn chiếm sử dụng sau năm 2005. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện, người bị kiện đều xác định phần diện tích đất này nằm ở giữa chân núi. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ diện tích đất đang bị khiếu nại có thuộc Dự án khu du lịch sinh thái B hay không mà lại tuyên hủy quyết định giải quyết khiếu nại là chưa đủ căn cứ.

      7. Đối với diện tích 555,7m² không có quyết định thu hồi, bồi thường, hỗ trợ:
      8. Căn cứ Biên bản đo đạc ngày 22/12/2015 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P thì diện tích 555,7m² thể hiện là ao cá. Việc UBND thành phố P không ra quyết định thu hồi, bồi thường quyền sử dụng đối với phần đất này là do đất lấn chiếm sử dụng sau năm 2005 nên không được bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ. Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định: “Tại quyết định giải quyết khiếu nại và trong quá trình giải quyết tại Tòa án, Chủ tịch UBND thành phố P không xác định được vì sao không ra Quyết định thu hồi đất diện tích 555,7m² ông C đang sử dụng”, là đánh giá chưa chính xác, khách quan các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

        Mặt khác, ông C cho rằng năm 2002 có cho Cơ quan Vùng 5 Hải quân mượn đất mở rộng đào ao để cho bò uống nước. Người bị kiện lại trình bày phần đất này do Bộ Q1 quản lý. Sau đó, có giao lại cho Tỉnh ủy K1 quản lý. Văn bản này thuộc văn bản mật nên UBND thành phố P không lưu trữ. Tòa án cấp sơ thẩm vẫn chưa xác minh làm rõ các vấn đề này mà chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C là không đủ căn cứ vững chắc. Bởi vì nếu đất của Bộ Q1 quản lý thì cần phải xem xét lại có phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính không và nếu là của Tỉnh ủy K1 quản lý thì đã giao lại cho cơ quan tổ chức hay cá nhân sử dụng hay chưa.

      9. Từ những phân tích trên thấy rằng, việc xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa toàn diện, triệt để và cấp phúc thẩm không thể thực hiện được trong quá trình xét xử phúc thẩm. Do đó, cần thiết phải hủy toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

      Xét kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P là có căn cứ nên được chấp nhận.

  5. Về án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng: Do hủy bản án sơ thẩm nên án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng sẽ được xử lý khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
  6. Về án phí hành chính phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

  1. Hủy toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 65/2022/HC-ST ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang; Giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang thụ lý, giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.
  2. Về án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được xử lý khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
  3. Về án phí hành chính phúc thẩm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. H lại 300.000 đồng tạm ứng án phí Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P đã nộp theo biên lai thu số 0009848 ngày 10/8/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Kiên Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; NTV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hồ Tâm Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 922/2023/HC-PT ngày 23/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại, hành vi không ban hành quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất

  • Số bản án: 922/2023/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại, hành vi không ban hành quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger