|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 921/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/7/2024.
V/v: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Văn Rồi.
2/ Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 655/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 412/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc M, sinh năm: 1995. (có đơn xin vắng mặt)
Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 16/4/2022.
Địa chỉ: C đường T, ấp I, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Công S, sinh năm 1995; (có đơn xin vắng mặt)
Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 04/9/2022.
Địa chỉ: số B đường T, ấp A, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn nội dung đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Ngọc M trình bày:
Bà và ông Nguyễn Công S tìm hiểu nhau một thời gian khoảng 06 tháng thì tự nguyện cưới nhau năm 2014, có tổ chức cưới, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống ở nhà cha chồng tại số B đường T, ấp A, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, chung sống hạnh phúc thời gian gần 03 năm thì xảy ra mâu thuẩn, nguyên nhân do ông S không làm ăn, không lo cho vợ con,...một mình bà lo không nổi nên bà bỏ về nhà cha mẹ ruột ở từ năm 2018 cho đến nay. Bà nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắng nên nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Công S.
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày: 02/01/2016. Giao con chung cho ông S được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: không có.
Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Bản sao căn cước công dân, tờ cam kết, trích lục giấy chứng nhận kết hôn, bản sao khai sinh, đơn xin vắng mặt.
Theo nội dung bản tự khai và ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Công S trình bày trong quá trình giải quyết vụ kiện trình bày:
Hai bên xây dựng gia đình năm 2014, tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Sau khi xây dựng xong, vợ chồng sống chung bên nhà chồng, không có nhà riêng, không hạnh phúc. Mâu thuẩn xảy ra vào năm 2016, 2017 sống chung không được nên cải vả. Nguyện vọng muốn ly hôn, không muốn đoàn tụ. Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày: 02/01/2016, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: không có.
Các tài liệu, chứng cứ mà bị đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Bản tự khai, bản sao căn cước công dân, đơn xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
Nguyên đơn, bị đơn đã có bản tự khai rõ ràng và có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Bà Trần Ngọc M và ông Nguyễn Công S tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 239 ngày 14/10/2014 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của bà M xin ly hôn với ông S và ông S cũng đồng ý ly hôn với bà M. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng bà M và ông S đều muốn ly hôn để trả tự do cho nhau theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày: 02/01/2016. Bà M giao con chung cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng, ông S yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung; Trẻ Khang cũng có nguyện vọng muốn ở với ba khi ba mẹ ly hôn, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các bên là giao con chung cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng. Ông S không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Nguyên đơn, bị đơn cùng xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nghĩa vụ dân sự chung: Nguyên đơn, bị đơn cùng xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Cần buộc bà M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Ngọc M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Ngọc M được ly hôn với ông Nguyễn Công S.
Giấy chứng nhận kết hôn số 239 ngày 14/10/2014 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà M, ông S không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày: 02/01/2016. Ông S được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của ông S là không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.
Khi có lý do chính đáng việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay đổi cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu bà M lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông S có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà M.
3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Nghĩa vụ dân sự chung: không có.
5. Án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) buộc bà Trần Ngọc M phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015432 ngày 05/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; bà M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hùng Vương |
Bản án số 921/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 921/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
