Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 921/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09-8-2024

V/v: Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 730/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về Tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1052/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Q, sinh năm 1982;

Thường trú: 151A Trần Thị D, khu phố A (khu phố F cũ), phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Có mặt).

Bị đơn: Ông Trần Xuân Q1, sinh năm 1977;

Thường trú: 151A Trần Thị D, khu phố A (khu phố F cũ), phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 14/6/2024, bản tự khai ngày 03/7/2024, ngày 22/7/2024 cùng các lời khai trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Q trình bày:

Trần Thị Q và ông Trần Xuân Q1 tự nguyện tìm hiểu có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam ngày 17/02/2003. Thời gian đầu sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng sau đó từ khoảng năm 2014 phát sinh mâu thuẫn về tình cảm, khác biệt về quan điểm sống, tính cách không còn phù hợp, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn làm cho cuộc sống không hạnh phúc. Ông Q1 đã nhiều lần có quan hệ tình cảm không rõ ràng với người phụ nữ khác, bà đã cho ông Q1 nhiều cơ hội nhưng ông không thay đổi. Bà Q đã từng nộp đơn ly hôn tại Tòa án, nhưng sau đó ông Q1 đã xin lỗi bà và hàn gắn gia đình nên bà đã rút đơn ly hôn. Tuy nhiên sau đó mâu thuẫn về tình cảm vẫn diễn ra, bà Q và ông Q1 đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện với nhau để hàn gắn gia đình nhưng vẫn không thể hòa hợp. Hiện nay tuy bà và ông Q1 vẫn sống chung nhà nhưng đã không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay bà Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu ly hôn với ông Q1.

- Về con chung: Có 02 con chung tên:

  • Trần Quang H – Giới tính nam, sinh ngày: 28/11/2003 (đã trưởng thành);
  • Trần Huy H1 – Giới tính nam, sinh ngày: 20/6/2008;

Q yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Trần Huy H1, không yêu cầu ông Q1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, bà Trần Thị Q không có yêu cầu nào khác.

Tại bản tự khai ngày 03/7/2024, ngày 22/7/2024 cùng các lời khai trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Xuân Q1 trình bày:

Ông Trần Xuân Q1 xác nhận lời trình bày của bà Q về việc kết hôn là đúng. Theo ông vợ chồng không có mâu thuẫn lớn, không cãi vã lời qua tiếng lại, ông còn thương vợ con, cuộc sống gia đình vẫn bình thường nên ông không đồng ý ly hôn với bà Q. Theo ông bà Q có hiểu lầm ông về tình cảm và ông có giải thích nhưng bà Q không nghe và nghĩ ông có qua lại tình cảm với người khác.

- Về con chung: Có 02 con chung tên:

  • Trần Quang H – Giới tính nam, sinh ngày: 28/11/2003 (đã trưởng thành);
  • Trần Huy H1 – Giới tính nam, sinh ngày: 20/6/2008;

Nếu Tòa án giải quyết cho bà Q ly hôn thì ông yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Trần Huy H1, không yêu cầu bà Q thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp thuận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp là Tranh chấp về ly hôn mà bị đơn cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Xét về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều có mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Q:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/2003 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam cấp ngày 17/02/2003 là cơ sở xác định hôn nhân giữa bà Trần Thị Q và ông Trần Xuân Q1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Qua lời khai của đương sự thể hiện trong hồ sơ vụ án và hai bên trình bày tại phiên tòa cho thấy về quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông Q1 có xảy ra mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc nguyên nhân là do bà Q nghi ngờ ông Q1 có quan hệ tình cảm với người khác làm cho gia đình không được hạnh phúc, cuộc sống trở nên nghi ngờ và ngột ngạt. Bà đã từng nộp đơn ly hôn ông Q1 tại Tòa án, sau đó để cho ông Q1 có cơ hội sửa đổi và hàn gắn gia đình bà đã rút đơn ly hôn, nhưng ông Q1 vẫn không thay đổi cách sống, vẫn có quan hệ tình cảm không rõ ràng với người phụ nữ khác. Ông Trần Xuân Q1 trình bày theo ông vợ chồng không có mâu thuẫn lớn, không cãi vã lời qua tiếng lại, ông còn thương vợ con, cuộc sống gia đình vẫn bình thường nên ông không đồng ý ly hôn với bà Q nhưng ông không nêu ra được giải pháp nào để giải thích hiểu lầm, để bà Q tin tưởng ông và hàn gắn gia đình.

Theo Công văn số 841/UBND ngày 06/8/2024 của UBND phường H trả lời kết quả xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà Trần Thị Q và ông Trần Xuân Q1: Qua xác minh của khu phố, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà Q và ông Q1 thường xuyên xảy ra do ông Q1 ngoại tình, hai người không thể hàn gắn.

Do vậy, lời trình bày của bà Trần Thị Q, ông Trần Xuân Q1 là có cơ sở xác định mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân là có thật, mặc dù hai bên còn sống chung nhà nhưng đã không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương, chia sẻ công việc với nhau, ông Q1 trình bày là do bà Q hiểu lầm ông nhưng ông lại không có hành động nào cụ thể nào để hàn gắn gia đình, giải thích hiểu lầm với bà Q mà để tình trạng mâu thuẫn kéo dài, làm cho niềm tin vào hôn nhân của bà Q không còn. Như vậy tình trạng hôn nhân của bà Q và ông Q1 đã không còn tình cảm để duy trì đời sống chung, không thỏa theo nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình thì: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, do quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng. Đồng thời, theo quy định tại Điều 19, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

[3.2] Về con chung: Có 02 con chung tên:

  • Trần Quang H – Giới tính nam, sinh ngày: 28/11/2003 (đã trưởng thành);
  • Trần Huy H1 – Giới tính nam, sinh ngày: 20/6/2008;

Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự tại phiên tòa thì bà Q và ông Quảng hiện đang sống chung, con chung Trần Quang H đã trưởng thành, con chung Trần Huy H1 hiện nay đang ở chung với bà Q và ông Q1. Bà Q yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Trần Huy H1, không yêu cầu ông Q1 cấp dưỡng nuôi con. Ông Q1 trình bày trong trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Trần Huy H1, ông sẽ đưa trẻ H1 về quê ở cùng ông, ông không yêu cầu bà Q cấp dưỡng nuôi con. Bà Q và ông Q1 đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Trần Huy H1. Tại bản tự khai ngày 22/7/2024 trẻ Trần Huy H1 có nguyện vọng được ở với mẹ là bà Trần Thị Q. Hiện nay trẻ H1 đang học lớp 11 trường THPT V, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy để đảm bảo cho sự ổn định trong cuộc sống và học tập của trẻ trong giai đoạn sắp tốt nghiệp Trung học phổ thông cũng như phù hợp với nguyện vọng của trẻ nên Hội đồng xét xử có căn cứ giao con chung là trẻ Trần Huy H1 cho bà Trần Thị Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Việc bà Q chưa yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Trần Xuân Q1 là không ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Q1, cũng như không có cơ sở xác định làm ảnh hưởng đến lợi ích của con chung.

[3.3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 cho rằng đời sống hôn nhân giữa bà Q và ông Q1 mâu thuẫn trầm trọng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông Q1 đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Q.

Đồng thời, Hội đồng xét xử còn căn cứ vào Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận giao con chung Trần Huy H1 cho bà Trần Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên; Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Trần Xuân Q1.

[3.4] Ngoài ra, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản do bà Trần Thị Q và ông Trần Xuân Q1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Trần Thị Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và đã nộp xong theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005159 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 269, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 2, 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Q.
    1. Về quan hệ hôn nhân:
    2. Trần Thị Q được ly hôn với ông Trần Xuân Q1.

      Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/2003 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam cấp ngày 17/02/2003 không còn hiệu lực.

    3. Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:
    4. Có 02 (hai) con chung tên:

      • Trần Quang H – Giới tính nam, sinh ngày: 28/11/2003 (đã trưởng thành);
      • Trần Huy H1 – Giới tính nam, sinh ngày: 20/6/2008;

      Giao con chung Trần Huy H1 cho bà Trần Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.

      Tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Trần Xuân Q1.

      Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    5. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    6. Nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
  3. Trần Thị Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và đã nộp xong theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005159 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Quyền kháng cáo:
  5. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

  6. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi cục THADS Quận 12;
  • - UBND xã Chân Lý, huyện
  • Lý Nhân, tỉnh Hà Nam;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 921/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 921/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger