|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 921/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2025
V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Tuyết Phương
2. Bà Hồ Thị Lang
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trân - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 0490/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 185/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 và Thông báo thay đổi hội thẩm nhân dân số 1187/2025/TB-TA ngày 18 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn : Bà Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1974 (Có mặt)
HKTT: 102/17A Trần Quang Khải, phường Tân Định, Quận 1, TPHCM
(Nay là phường Tân Định, Thành phố Hồ Chí Minh)
Địa chỉ: 3 P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1965 (Có mặt)
Địa chỉ: 1 L, Phường A, quận B, TP H (Nay là phường G, Thành phố Hồ Chí Minh)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và các bản trình bày ý kiến và các biên bản hòa giải, làm việc tại Tòa án, nguyên đơn, bà Phạm Thị Ngọc H trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn H1 đã tự nguyện tìm hiểu và tự nguyện kết hôn từ năm 1994 có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận kết hôn số 53 quyển số 1 ngày 17/10/1994 của Ủy ban nhân dân Phường A1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 06 tháng, 30 năm tiếp theo thì không có một ngày hạnh phúc. Nguyên nhân: Ông H1 thường xuyên đi cờ bạc, đá banh thâu đêm suốt sáng, không lo cho gia đình, mọi tiêu trong gia đình đều do bà gánh vác, ông H1 cũng không tôn trọng mẹ và bà ngoại của bà. Hiện nay bà không còn sức chịu đựng, không còn tình cảm gì với ông H1, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1. Từ ngày bà quyết định ly hôn đến nay, bà đã xóa hẳn số điện thoại của ông H1 vì hai bên không còn liên quan gì, nên bà không có lý do gì để là liên lạc với ông H1. Về con chung: Bà và ông H1 có 01 người con chung tên Nguyễn Tiến A, sinh ngày 03/9/1998 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà và ông H1 đã sinh sống ổn định tại địa chỉ: 3 P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2018 cho đến nay.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1 trình bày: Từ ngày 07/5/2025 cho đến nay ông đã chuyển về nhà cha mẹ ở địa chỉ: 100/46/16 L sinh sống, đề nghị Tòa án triệu tập ông theo địa chỉ như trên. Về việc kết hôn, chung sống và con chung như bà H trình bày là đúng. Về mâu thuẫn: Thực tế ông và bà H đã lục đục về tiền bạc trong cuộc sống mưu sinh từ lâu, kéo dài nhiều năm nay, ông cũng đã cố gắng hàn gắn tình cảm gia đình nhưng bà H không đồng ý. Ngoài chuyện tiền bạc thì ông bà không có mâu thuẫn gì khác. Ông không đồng ý ly hôn, mong Tòa án hòa giải cho ông được đoàn tụ gia đình, cho ông bà có thêm thời gian hòa giải. Về con chung: Ông và bà H có 01 người con chung tên Nguyễn Tiến A, sinh ngày 03/9/1998 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông H1 đề nghị được viết bản cam kết tại tòa hứa sẽ thay đổi, nếu ông vẫn không thay đổi, không hàn gắn được với bà H thì sẽ đồng ý thuận tình ly hôn với bà H.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai bên đoàn tụ nhưng không thành.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông Nguyễn Văn H1, con chung tên Nguyễn Tiến A, sinh ngày 03/9/1998 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1 không đồng ý ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu về việc chấp hành đúng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và xác định: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc H được ly hôn ông Nguyễn Văn H1. Về con chung: tên Nguyễn Tiến A, sinh ngày 03/9/1998 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Bà H phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thẩm quyền: Căn cứ vào lời khai của các đương sự thì giữa các bên đã phát sinh quan hệ tranh chấp “Ly hôn”, bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét việc khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc H phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Xét yêu cầu của đương sự:
- [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc H yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn H1.
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 53 quyển số 1 ngày 17/10/1994 của Ủy ban nhân dân Phường A1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phường G, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp thì quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông H1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.
Xét lời khai của bà H cho thấy, sau khi kết hôn, vợ chồng bà chỉ sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về kinh tế gia đình, lời khai của ông H1 tại các buổi hòa giải cũng xác nhận vợ chồng ông có mâu thuẫn về tiền bạc, tại phiên tòa, ông H1 xác nhận hôn nhân của ông bà không hạnh phúc đã lâu. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa công khai, Tòa án cũng đã động viên bà H cho ông H1 thêm cơ hội, ông H1 đưa ra giải pháp là làm bản cam kết thay đổi, cố gắng hàn gắn mâu thuẫn nhưng bà H không đồng ý và kiên quyết ly hôn và đề nghị Hội đồng xét xử không tiếp tục hòa giải đoàn tụ, điều này cho thấy bà H không có mong muốn đoàn tụ, không muốn cho ông H1 thêm cơ hội. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà H và ông H1 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình 2014, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận, đề nghị được đoàn tụ của ông H1 không có cơ sở chấp nhận.
- [2.2] Về con chung: Bà H và ông H1 có 01 người con chung tên Nguyễn Tiến A, sinh ngày 03/9/1998 đã trưởng thành, hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [2.3] Về tài sản: Tài sản chung và nợ chung: Hai bên khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc H yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn H1.
- [3] Đối với phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng, phân tích đúng nội dung của vụ án, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh về việc giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật và có cơ sở chấp nhận.
- [4] Về án phí:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 19, 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Điều 26 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Phạm Thị Ngọc H
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc H được ly hôn ông Nguyễn Văn H1. Giấy chứng nhận kết hôn số 53 quyển số 1 ngày 17/10/1994 của Ủy ban nhân dân Phường A1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phường G, Thành phố Hồ Chí Minh) không còn giá trị pháp lý kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do bà Phạm Thị Ngọc H chịu, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0053048 ngày 25/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi cấn trừ, bà H đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
Viện kiểm sát nhân dân nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Trang |
Bản án số 921/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 921/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Ngọc H yêu cầu ly hôn Nguyễn Văn H1. Có 01 con chung đã trưởng thành. Không có tài sản chung, nợ chung. Chấp nhận yêu cầu
