Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 921/2024/HS-PT

Ngày: 14/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Xuân Điền;

Ông Phạm Văn Lợi

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Vũ Quang Huy - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1047/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Khuất Văn N phạm tội “Cướp tài sản” và “Bắt giữ người trái pháp luật”; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Khuất Văn N (tên gọi khác: Không), sinh năm 1977 tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn X, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Đảng, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Khuất Văn Đ (đã chết) và con bà Phùng Thị C, sinh năm 1940; có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1980 và có 02 con, (lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/11/2019 Công an huyện V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Khuất Văn N về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác với mức phạt là 2.500.000 đồng. Qua xác minh tại Công an huyện V xác định chưa giao được quyết định xử phạt hành chính cho Khuất Văn N do N không có mặt tại địa phương. Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 và khoản 1 Điều 74 Luật xử lý vi phạm hành chính thì Khuất Văn N chưa bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2022, hiện đang bị giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Khuất Văn N: Luật sư Nguyễn Thị Kim Q thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V, có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Phạm Ngọc H1, Trần T, Lê Đức L, Kim Đình T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn O, Đỗ Đức C1 không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị; các bị hại không kháng cáo, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6/2021, thông qua bạn là anh Lê Quang C2 thì anh Đặng Đức M quen biết với Khuất Văn N. Quá trình quen biết, N nói với anh M là N cùng một số người đấu thầu được đất ở ven sông H thuộc địa phận xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và rủ thì anh M đồng ý góp tiền để làm thủ tục xin nạo vét, khai thác cát đồng thời anh M là người đứng ra làm thủ tục xin cấp phép khai thác cát.

Đầu tháng 10/2021, N nói với anh Lưu Tuấn V (người quen của N) là N mới thầu được 3,6 mẫu đất ven sông tại xã V, huyện V, anh V xem ai có tiền thì góp vào để N lo xin giấy phép khai thác cát. Sau đó, anh V rủ anh Nguyễn Văn S và anh Hoàng Văn C3 tham gia góp vốn, rồi anh S rủ thêm anh Đặng Anh M1 tham gia góp vốn. Tổng số tiền anh V, anh S, anh C3, anh M1 thỏa thuận góp vốn là 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng), trong đó anh V góp 700.000.000 đồng, anh S và anh C3 mỗi người góp 650.000.000 đồng, còn anh M1 góp 2.000.000.000 đồng.

Sau khi đưa tổng số tiền 4.000.000.000 (bốn tỷ) đồng cho N và anh M, do không thấy xin được giấy phép khai thác cát nên anh S, V, C3, M1 không đầu tư nữa và yêu cầu N trả tiền, N nói lại với anh M thì anh M đã chuyển số tiền 2.300.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của anh V, anh M còn nợ lại số tiền 1.700.000.000 đồng.

Khi Nguyễn Thế A liên tục yêu cầu Khuất Văn N trả 02 chiếc thuyền Thế A cho N mượn và trả 100.000.000 (một trăm triệu) đồng mà Thế A đã đưa cho N để góp vốn vào Công ty do N và các anh V, S, M1 thành lập tháng 01/2022, thì N đã nảy sinh ý định mượn Thế A để ép anh M phải trả tiền. Vì vậy, N đã nói với Thế A là số tiền Thế A đưa N thì N đã đưa cho anh M và hiện anh M đang nợ N số tiền 1.700.000.000 đồng, nếu Thế A đòi được M trả tiền thì N sẽ trả Thế A 430.000.000 (bốn trăm ba mươi triệu) đồng bao gồm tiền góp vốn 100.000.000 đồng và giá trị 02 chiếc thuyền là 330.000.000 đồng, Thế A đồng ý.

Để thực hiện ý định trên N đã gửi thông tin mỏ quặng titan qua ứng dụng Zalo cho anh M, rủ anh M đến nhà N để cùng đi xem mỏ quặng titan ở Sơn La nhằm mục đích là dụ anh M sang nhà N để Thế A ép anh M phải trả nợ. Vì tưởng N nói thật nên sáng ngày 22/11/2022 anh M điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Hilux BKS 98C-259.63 từ Bắc Giang lên nhà N ở xã V, huyện V. Anh M rủ ông Nguyễn Thạch Q1 cùng đi.

N biết anh M tới nên gọi Thế A đến nhà N. Thế A gọi Phạm Ngọc H1, Đỗ Đức C1, Nguyễn Văn O nói đi cùng Thế A xử lý nợ và Thế A thuê Kim Đình T1 chở cả nhóm tới nhà N. Thế A bảo cả nhóm nay N dụ được anh M sang nên cả nhóm đến nhà N để ép anh M trả nợ số tiền 1.700.000.000 đồng.

Tại nhà N, các bị cáo đã đe doạ, ép anh M trả tiền, anh M gọi điện về nhà và gọi hỏi vay tiền nhưng không được nên sau đó cả nhóm đưa anh M về nhà Thế A ở thị trấn K, huyện T để tiếp tục đe dọa, đánh đập và ép anh M phải trả nợ. Tại nhà Thế A, có thêm sự giúp sức của Lê Đức L, Trần T, Nguyễn Văn T2.

Trong khoảng thời gian từ 14 giờ ngày 22/11/2022 đến 21 giờ ngày 23/11/2022, các bị cáo đã có hành vi bắt giữ anh M từ nhà N ở xã V, huyện V sang quán bi-a nhà Thế A rồi giữ tại quán và nhà của Thế A ở thị trấn K, huyện T để đe dọa, đánh đập và ép anh M phải trả nợ.

Tại quán lẩu, quán B và nhà ở của Thế A, sau khi bị đe dọa, đánh đập vì hoảng sợ nên anh M đã viết các giấy nhận nợ. Việc Thế A và H1 đe doạ, ép anh M trả nợ tại nhà của N có sự chứng kiến của N, tại nhà Thế A thì N cùng cả nhóm trông giữ và đe doạ đến 22h ngày 22/11/2022 thì N về nhà. Sau đó, cả nhóm ép anh M chuyển khoản tổng số tiền 53.000.000 đồng, bán xe ô tô BKS 98C -259.63 của anh M cho anh K theo yêu cầu của Thế A và H1 được 402.000.000 đồng và cũng tại nhà Thế A, H1 đã trực tiếp chiếm đoạt của anh M số tiền 900.000 đồng. Việc Thế A và H1 ép anh M bán xe ô tô có sự tham gia giúp sức của Trần T và Lê Đức L.

Đối với Nguyễn Thế A: đã bỏ trốn khỏi địa phương; hết thời hạn điều tra vẫn chưa bắt được Thế A nên cơ quan điều tra đã tạm đình chỉ điều tra bị can và ra lệnh truy nã đối với Nguyễn Thế A, khi nào bắt được Nguyễn Thế A sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với Nguyễn Mạnh H2: Quá trình điều tra xác định, H2 biết việc anh M nợ tiền của N, H2 có mặt tại phòng khách nhà Thế A trong thời gian từ khoảng 21h00' ngày 22/11 đến khoảng 00h30' ngày 23/11/2022, H2 biết anh M bị nhóm Thế A giữ tại đây để yêu cầu trả tiền cho N. Sau đó, H2 trực tiếp cùng L mang xe ô tô của anh M đến cửa hàng mua bán ô tô Toàn Thắng để bán nhưng không được giá nên H2, L mang xe về nhà Thế A. Do quá trình điều tra H2 không có mặt tại địa phương và chưa bắt được Thế A nên chưa đấu tranh làm rõ được hành vi của H2. Do vậy, khi nào bắt được Nguyễn Thế A, làm việc được với H2 để đấu tranh, làm rõ, nếu đủ căn cứ sẽ xử lý H2 sau.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 05/8/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 168; khoản 1 Điều 157; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Khuất Văn N 13 (Mười ba) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 01 (Một) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Khuất Văn N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/12/2022.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với 07 bị cáo khác là Phạm Ngọc H1, Trần T, Lê Đức L, Kim Đình T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn O, Đỗ Đức C1; quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 17/8/2024, bị cáo Khuất Văn N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Khuất Văn N thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng phạm tội do hiểu biết pháp luật hạn chế, bị cáo chỉ muốn đòi lại số tiền mà anh M còn nợ; gia đình bị cáo có công với cách mạng nhưng do bị cáo bị giam nên không thể cung cấp được giấy tờ chứng minh cho Toà án.

Luật sư bào chữa cho bị cáo N đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã biết mình sai và thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự vì tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, đã ăn năn hối cải và đề nghị giảm cho bị cáo từ 06 tháng đến 01 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Ngày 05/8/2024, Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm vụ án. Ngày 17/8/2024 bị cáo Khuất Văn N kháng cáo là trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh: Quá trình điều tra ban đầu, Khuất Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, sau đó N thay đổi lời khai và tại phiên toà sơ thẩm không nhận tội, không thừa nhận hành vi thỏa thuận với Thế A để ép anh M trả nợ và thỏa thuận sẽ trả Thế A số tiền 430.000.000 đồng gồm 100.000.000 đồng Thế A góp vốn và 300.000.000 đồng tiền trị giá 02 chiếc thuyền Thế A cho N mượn từ việc lấy tiền của anh M. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu và chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ lời nhận tội của bị cáo N tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: N đã có hành vi cùng các đồng phạm bắt, giữ anh M trong khoảng thời gian từ 14 giờ ngày 22/11/2022 đến 21 giờ ngày 23/11/2022 rồi dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực để ép anh M giao cho các bị cáo tổng số tiền là 455.400.000 đồng, đủ yếu tố cấu thành các tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 157, điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Khuất Văn N: Bị cáo Khuất Văn N bị truy cứu về tội “bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự có hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm và khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; tội “cướp tài sản” theo khoản 3 Điều 168 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Xem xét hành vi phạm tội của bị cáo N thấy rằng: nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội là do N nhận tiền của anh M1, anh S, anh V, anh C3 đưa cho anh M xin cấp giấy phép khai thác cát. Khi anh M không xin cấp được giấy phép thì anh M mới trả được một phần, còn nợ lại 1.700.000.000 đồng chưa trả, nên mới dẫn đến việc N cùng Thế A và các đồng phạm thực hiện việc bắt, giữ và đe dọa anh M để lấy tiền. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm bị cáo N chỉ có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không thành khẩn khai báo, không nhận tội, nên Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo N 13 (Mười ba) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 01 (Một) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Khuất Văn N đã nhận tội, thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã nêu và tỏ thái độ ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo N và xem xét tới nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo về tội “cướp tài sản” để thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội đã nhận thức được lỗi lầm, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Khuất Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Khuất Văn N; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Khuất Văn N.

Tuyên xử: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 168; khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Khuất Văn N 12 (Mười hai) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 01 (Một) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Khuất Văn N phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/12/2022.

2. Về án phí: Bị cáo Khuất Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Điền

Trần Thị Quỳnh

Phạm Văn Lợi

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND Tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục THADS Tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo (qua TTG);
  • - Lưu HS, PHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 921/2024/HS-PT ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án hình sự: cướp tài sản và bắt giữ người trái pháp luật

  • Số bản án: 921/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Cướp tài sản và Bắt giữ người trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khuât Văn N phạm tội "Cướp tái sản" và "bắt giữ người trái pháp luật"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger