Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 920/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/5/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Hòa Bình
  2. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Mỹ Linh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2344/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 121/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kiều H, sinh năm 1982

Địa chỉ: Số D đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Hồ Bá S, sinh năm 1983

Địa chỉ: Số A Đường P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn, các bản tự khai, các biên bản tại Tòa án nguyên đơn là bà Trần Thị Kiều H trình bày:

Bà và ông Hồ Bá S tự nguyện kết hôn năm 2012, giấy chứng nhận kết hôn số 03/2012, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31/01/2012.

Quá trình chung sống có 01 con chung là Hồ Bảo K sinh ngày 27/7/2012.

Trong quá trình chung sống, giữa hai bên có nảy sinh mâu thuẫn do khác biệt quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn cho mục đích hôn nhân không đạt được làm ảnh hưởng đến cuộc sống của vợ chồng và con. Đầu năm 2023 bà đã nộp đơn xin ly hôn nhưng sau đó đã rút đơn về để đoàn tụ gia đình, mặc dù bà và ông S cùng hai gia đình đã cố gắng hàn gắn nhưng không đạt kết quả tốt. Hai vợ chồng đã sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết, bà H xin được ly hôn với ông S để ổn định cuộc sống.

Về con: Tại đơn xin ly hôn ngày 26/6/2023, bà H xin được trực tiếp nuôi con và yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con là 5.000.0000 đồng/ tháng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H thay đổi ý kiến, bà không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà H nộp.

Ngoài ra bà Kiều H không có yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn là ông Hồ Bá S: Ông S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông S không đến Tòa án giải quyết vụ án và cũng không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ theo quy định tại các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110 và 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Kiều H. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của bà H. Giao cháu Hồ Bảo K sinh ngày 27/7/2012 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông S cấp dưỡng để nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn phải đóng án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Theo kết quả cung cấp tài liệu, chứng cứ của Công an P, quận B thì ông Hồ Bá S hiện cư trú tại A Đường P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

2 Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Hồ Bá S đã được tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Bị đơn không nộp tài liệu, chứng cứ và văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tòa án căn cứ tài liệu chứng cứ đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ vợ chồng: Xét yêu cầu của bà Trần Thị Kiều H về việc xin ly hôn với ông Hồ Bá S, Hội đồng xét xử thấy:

Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 03/2012, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31/01/2012 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Kiều Hông Hồ Bá S là hợp pháp.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông S không tham gia hòa giải và không tham gia phiên tòa hôm nay điều đó cho thấy ông S không thiết tha hàn gắn, níu kéo tình cảm vợ chồng, chăm sóc con cái và xây dựng gia đình hạnh phúc. Hôn nhân phải trên cơ sở nam nữ tự nguyện thương yêu, xây dựng, vun đắp hạnh phúc gia đình nếu không thì việc duy trì hôn nhân giữa ông bà cũng chỉ là hình thức.

Căn cứ Điều 19 của Luật hôn nhân và Gia đình thì “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” thì mục đích hôn nhân mới đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Kiều H đối với ông Hồ Bá S là có cơ sở chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Xét yêu cầu của bà Trần Thị Kiều H về việc xin được trực tiếp nuôi con là Hồ Bảo K sinh ngày 27/7/2012 và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử thấy:

Căn cứ bản sao khai sinh số 206/2012 do ủy ban nhân dân Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/8/2012 thì bà Trần Thị Kiều Hông Hồ Bá S có 01 con chung là Hồ Bảo K. Bà H khai nhận con hiện đang sống chung cùng với bà, đồng thời ông S cũng không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con. Để không làm xáo trộn cuộc sống của con thì việc giao con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và cũng phù hợp với nguyện vọng của con là được ở cùng với mẹ khi cha mẹ ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Kiều H tự nguyện không yêu cầu ông S cấp dưỡng, ông S cũng không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bà Kiều H và không xem xét thêm.

[3.3] Về tài sản và nợ chung: Bà Kiều H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông S không có ý kiến gì về tài sản. Do vậy Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bà Kiều H và không xem xét thêm.

[3.4] Về án phí: Án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, bà H phải nộp.

Đối với phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng và phân tích đúng nội dung của vụ án và đưa ra ý kiến giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Thị Kiều H.

  1. Về quan hệ vợ chồng: Bà Trần Thị Kiều H được ly hôn với ông Hồ Bá S.
  2. Về con chung: Giao trẻ Hồ Bảo K sinh ngày 27/7/2012 cho bà Trần Thị Kiều H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Kiều H về việc không yêu cầu ông Hồ Bá S cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con.

Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản và nợ chung: Ghi nhận ý kiến của bà Trần Thị Kiều H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Án phí đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, bà Trần Thị Kiều H phải nộp nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà Trần Thị Kiều H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0029101 ngày 04/12/2023 của Chi cục thi hành án quận Bình Thạnh. Bà Trần Thị Kiều H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Kiều Hông Hồ Bá S được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự,
  • - TAND Tp.Hồ Chí Minh,
  • - VKSND Q.Bình Thạnh,
  • - Chi cục THADS Q.Bình Thạnh,
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 920/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 920/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger