Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Số: 92/2023/HS-ST

Ngày 30-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Hoàng Dân

Ông Nguyễn Tiến Bộ

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30/11/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội; Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Nguyễn Thị Thu H; giới tính: nữ; tên gọi khác: Không Sinh năm: 1992; ĐKTT: Thôn L, xã T, huyện S, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; họ tên bố: Nguyễn Văn T, sinh năm 1962; họ tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; chồng: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992 (Đã ly hôn); con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/4/2023, chuyển tạm giam ngày 14/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an T2.
  2. Họ tên: Lò Thị L1; giới tính: nữ; tên gọi khác: Không Sinh năm: 2003; ĐKTT: Bản Mở, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; họ tên bố: Lò Văn Y, sinh năm 1982; họ tên mẹ: Hoàng Thị È, sinh năm 1982; chồng, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/4/2023, chuyển tạm giam ngày 14/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an T2.
  3. Họ tên: Trương Văn K; giới tính: nam; tên gọi khác: Không Sinh năm: 1999; ĐKTT: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; họ tên bố: Trương Văn V, sinh năm 1971; họ tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1974; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: - Ngày 19/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xử phạt 08 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 24/10/2017, đã được xóa án tích; - Ngày 11/11/2015 bị Công an huyện T, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, hình thức phạt tiền, đã nộp tiền phạt ngày 12/11/2015; - Ngày 22/4/2016 bị Công an huyện T, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền, đã nộp tiền phạt ngày 27/4/2016; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/4/2023, chuyển tạm giam ngày 14/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an T2.

Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo L1: Ông Nguyễn Ngọc C; Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm T3, TP

Tại phiên tòa các bị cáo có mặt, ông C có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Hồi 01 giờ 15 phút ngày 05/4/2023, tại phòng hát VIP 1 của quán K1 thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện M, TP . (do chị Ngô Thị H1, sinh năm 1989 tại xóm H, thôn H, Đ là chủ đăng ký kinh doanh) Công an huyện M phối hợp với Công an xã Đ kiểm tra, phát hiện Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1992, trú tại thôn L, xã T, huyện S, TP Hà Nội; Lò Thị L1, sinh năm 2003, trú tại Bản Mởm xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu; Trương Văn K, sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Tang vật thu giữ:

T1 tại mặt bàn trong phòng hát 01 đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 thẻ nhựa màu xanh và 01 túi nilong màu trắng.

- Thu giữ của Nguyễn Thị Thu H: 01 điện thoại Iphone 6s Plus màu vàng đã qua sử dụng, số IMEI: 353278076976294, gắn sim số 0347851812.

- Thu giữ của Lò Thị L1:

  • + 01 điện thoại Iphone 13, màu trắng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 351606647223915, IMEI 2: 351606647100428, gắn sim số 0964683364.
  • + 01 điện thoại Iphone 6 Plus, màu xám, đã qua sử dụng, số IMEI: 352050072870685, gắn sim số 0325422883.

- Thu giữ của Trương Văn K:

  • + 01 điện thoại Iphone 13, màu hồng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 357084347748181; IMEI 2: 357084347575741, gắn sim số 0378696966.
  • + 01 điện thoại VIVO Y21, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 864212057401776; IMEI 2: 864212057401768, không gắn sim.

Tại kết luận giám định số 2203/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng K2 Công an T2 kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ trên mặt đĩa là ma túy loại Ketamin, có khối lượng 1,039 gam. 01 thẻ nhựa màu xanh có dính ma túy loại ketamin.

Quá trình điều tra làm rõ:

Khoảng 22 giờ ngày 04/4/2023, Nguyễn Thị Thu H cùng bạn là Lò Thị L1Trương Văn K đi ăn tại khu vực cầu B, thuộc địa phận xã P, TP .. Sau khi ăn xong, cả ba người cùng rủ nhau đi hát karaoke, H lấy máy điện thoại có số thuê bao 0964683364 của L1 gọi đến số thuê bao 0986738398 của Trần Văn Q, sinh năm 1988, trú tại thôn H, xã Đ, huyện M (Chủ quán K3) để đặt phòng hát sau đó cả ba người cùng đi taxi đến quán. Đến nơi, Nguyễn Trọng N1, sinh năm 2000, trú tại xóm G, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình là quản lý quán dẫn lên phòng VIP 2 để hát. Cả ba người hát một lúc thì H quay sang L1K ra hiệu gật đầu và nói “chơi” tức là sử dụng ma túy. L1K đồng ý thì H sử dụng điện thoại của mình gọi điện thoại cho một người tên “T” để xin số điện thoại người bán ma túy. Sau khi có số điện thoại, H gọi điện mua 2.000.000 đồng tiền ma túy “ke” và giao tại quán K1. Khoảng 20 phút sau, H xuống cửa quán gặp người bán để nhận ma túy đồng thời nhờ người này lên phòng để “xào ke” giúp. Sau khi lên phòng, Hòa đổi từ phòng VIP 2 sang phòng VIP 1 để hát. Khi vào phòng H, L1, K đều thấy trên mặt bàn có 01 đĩa sứ trắng, 01 thẻ nhựa và 01 ống hút tự tạo. Người bán ma túy sử dụng đĩa, thẻ nhựa, ma túy do H mua để “xào ke” xong thì nhận 2.000.000 đồng và đi về. H, L1, K cùng nhau sử dụng ma túy đến khoảng 01 giờ 15 phút thì bị Công an bắt quả tang.

Cùng ngày 05/4/2023, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại đã thu giữ của Nguyễn Thị Thu H, Lò Thị L1Trương Văn K, kết quả:

  • + Kiểm tra 01 điện thoại Iphone 6s Plus màu vàng gắn sim số 0347851812 của Nguyễn Thị Thu H thể hiện:
  • Cuộc gọi nhỡ: Cùng ngày 05/4/2023 thuê bao có 03 cuộc gọi nhỡ từ số 0329313133 hồi (01:12 phút); số 0369019985 hồi (03:15); số 0963971411 hồi (07:49).
  • Cuộc gọi đến: Cùng ngày 04/4/2023, có 04 cuộc gọi đến từ số thuê bao 0977359509 hồi (23:22); 0976502009 hồi (21:54); 0387370665 hồi (21:54); 0964683364 hồi (21:44).
  • Cuộc gọi đi và tin nhắn: không.
  • + Kiểm tra điện thoại Iphone 6 Plus, màu xám gắn sim số 0325422883 của Lò Thị L1 thể hiện:
  • Cuộc gọi nhỡ, cuộc gọi đến, tin nhắn: không.
  • Cuộc gọi đi: gọi đi số 0967683364 hồi (19:43) ngày 04/4/2023.
  • + Kiểm tra điện thoại Iphone 13, màu trắng, gắn sim số 0964683364 của L1, kết quả:
  • Cuộc gọi nhỡ: số 0986738398 gọi nhỡ vào 00:51 ngày 05/4/2023.
  • Cuộc gọi đi: ngày 04/4/2023 có 04 cuộc gọi đi lần lượt: 0385555395 hồi 20:01; 0347851812 hồi 21:44; 0986738398 hồi 23:16; 0867823883 hồi 23:44.
  • Cuộc gọi đến, tin nhắn: Không
  • + Kiểm tra 01 điện thoại VIVO Y21, không gắn sim của Trương Văn K, kết quả: các cuộc gọi đến, đi, nhỡ, tin nhắn, zalo và messenger đều trống.
  • + Kiểm tra điện thoại Iphone 13, gắn sim số 0378696966 của Trương Văn K, kết quả:
  • Cùng ngày 04/4/2023 phát sinh các cuộc gọi:
  • Cuộc gọi nhỡ: thuê bao 0964683364 gọi nhỡ 01 lần vào 16:49
  • Cuộc gọi đi: gọi đi số 0978467516 hồi 16:15.
  • Cuộc gọi đến: thuê bao 02844559379 gọi đến hồi 17:55; 0964683364 gọi đến hồi 19:35; thuê bao 0345749563 gọi đến hồi 22:15.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Lệnh thu giữ điện tín số 15/LTG-CSĐT ngày 18/4/2023 và Lệnh thu giữ điện tín số 23/LTG-CSĐT ngày 26/6/2023, thu giữ bảng kê chi tiết các cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn từ 07h00 ngày 01/4/2023 đến 02h00 ngày 05/4/2023 và thông tin chủ thuê bao 0986738398, 0964683364; Bảng kê chi tiết các cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn từ 07h00 ngày 01/4/2023 đến 02h00 ngày 05/4/2023 và thông tin chủ thuê bao 0347851812 tại Tập đoàn C1.

Tại công văn số 3359/CNVTQĐ-TTKT ngày 24/5/2023 và công văn số 5079/CNVTQĐ-TTKT ngày 12/7/2023 của Tập đoàn C1 thể hiện: Chủ số thuê bao 0964683364 là Lò Thị L1, chủ thuê bao 0986738398 là Trần Văn Q. Chủ số thuê bao 0347851812 là Nguyễn Thị Thu H. Vào ngày 04/4/2023, số 0964683364 có gọi đến số 0986738398 ba lần vào (23:07; 23:16; 23:19) phù hợp với lời khai của HL1.

Tại cơ quan điều tra, H, L1K thừa nhận cùng rủ nhau mua ma túy về mục đích sử dụng chung, số tiền ăn uống, hát và mua ma túy các bị cáo thống nhất chia đều sau khi hát xong.

Tại cáo trạng số 65A/CT-VKS-MĐ ngày 10/11/2023 của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thu H, Lò Thị L1Trương Văn K tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “...Đối với 02 người trở lên;” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: các bị cáo khai nhận như nội dung cáo trạng đã nêu, ngoài ra còn thừa nhận các bị cáo đã quen biết nhau từ năm 2020, nhiều lần rủ nhau đi ăn uống, hát hò và cũng có một số lần cùng nhau góp tiền mua ma túy để sử dụng ma túy như cách thức đã làm ngày 04/4/2023. Cho đến ngày 04/4/2023 khi các bị cáo đang sử dụng ma túy tại quán karaoke của Trần Văn Q thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị mức hình phạt:

  1. Nguyễn Thị Thu H mức án từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
  2. Trương Văn K mức án từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
  3. Lò Thị L1 mức án từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.

Vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy- 01 (một) phong bì mẫu vật của Phòng K2 Công an T2, có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và chữ ký, họ tên Nguyễn Thị Thu H, Lò Thị L1Trương Văn K.

Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, số Imel: 353278076976294, có gắn sim số: 0347851812 thu giữ của Nguyễn Thị Thu H.

-Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu trắng, số IMEI: 351606647223915, có gắn sim số: 0964683364 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu xám, số IMEI: 352050072870685, có gắn sim số: 0325422883 thu giữ của Lò Thị L1.

Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng, số IMEI: 357084347748181, có gắn sim số: 0378696966 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y20 màu xanh, số IMEI: 864212057401768, không gắn sim thu giữ của Trương Văn K.

Trợ giúp viện pháp lý bào chữa cho bị cáo L1, nhất trí với tội danh và điều luật truy tố, bị cáo là người dân tộc, đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đề nghị áp dụng hình phạt thấp nhất hơn so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về tội danh: Tại phiên tòa một lần nữa các bị cáo K, H, và L1 đều thừa nhận: Đêm ngày 04/4/2023, sau khi các bị cáo đi ăn đêm thì có đến quán hát karaoke của Trần Văn Q ở xã Đ để hát, khi vào phòng hát thì H chủ động rủ KL1 sử dụng ma túy và ngầm hiểu cuối buổi hát sẽ chia nhau đóng góp tiền ăn chơi và sử dụng ma túy. nên H đã tự ý bỏ số tiền 2.000.000 đồng và sử dụng điện thoại của mình gọi điện thoại cho một người tên “T” để xin số điện thoại người bán ma túy. Sau khi có số điện thoại, H gọi điện mua 2.000.000 đồng tiền ma túy “ke” và giao tại quán K1. Khoảng 20 phút sau, H xuống cửa quán gặp người bán để nhận ma túy đồng thời nhờ người này lên phòng để “xào ke” giúp. H, L1, K cùng nhau sử dụng ma túy đến khoảng 01 giờ 15 phút thì bị Công an bắt quả tang. Các bị cáo tại phiên tòa còn khai nhận trước đó đã cùng nhau góp tiền theo cách thức trên để sử dụng ma túy, tuy nhiên ngoài lời khai của các bị cáo H, K, L1 tại phiên tòa thì không còn tài liệu chứng nào chứng minh các bị các phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần: Như vậy có cơ sở để kết luận các bị cáo đã có hành vi đóng góp tiền và cùng nhau sử dụng ma túy ngày 04/4/2023 phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và bị viện Kiểm sát truy tố tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS là hoàn toàn đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Xét vai trò của các bị cáo trong tội này: H là người khởi xướng chủ động rủ L1K sử dụng ma túy, H chủ động gọi người mang ma túy và tự bỏ tiền ra trước để là ketamin cùng nhau sử dụng, nên H giữ vai trò số 1 trong vụ án; KL1 cùng thống nhất sẽ đóng góp tiền mua ma túy cho H nên giữ vai trò ngang nhau và vai trò đứng sau H. Nhưng K có nhân thân xấu từng bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản và bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần về các hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đánh bạc nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc ngang với bị cáo H.

Xét tính chất: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào chế độ quản lý, sử dụng các chất gây nghiện do nhà nước độc quyền quản lý. Tội phạm còn là nguyên nhân phát sinh thêm nhiều tệ nạn trong xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ kinh tế của bản thân và xã hội, còn có nguy cơ làm lây truyền nhiều loại bệnh và tội phạm khác, xâm phạm đến trật tự trị an, an ninh thôn xóm, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Xét về hành vi của các bị cáo: Bản thân các bị cáo biết rất rõ ma túy là chất gây nghiện ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sức khỏe, kinh tế, thậm chí ảnh hưởng đến cả sự duy trì phát triển lành mạnh nòi giống. Ma túy bị nhà nước nghiêm cấm lưu hành và sử dụng. Nhưng vì ham chơi đua đòi, thỏa mãn sự ham muốn tệ nạn bay, lắc bất chấp coi thường các tác hại của ma túy ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân ảnh hưởng đến an ninh trật tự của xã hội, các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi tổ chức, tàng trữ tái phép chất ma túy, thuê địa điểm để lôi kéo người khác cùng với mình sử dụng trái phép chất ma túy là thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để trừng trị, răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành một công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo ở chỗ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đều phạm tội lần đầu (trừ bị cáo K) thuộc các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX đã cân nhắc và giảm nhe một phần hình phạt cho bị cáo.

Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng tên “T” và đối tượng bán ma túy cho H nhưng H không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, không nhớ số điện thoại của T và người bán ma túy nên Cơ quan điều tra không Xử lý T về hình sự trong vụ án này là có căn cứ.

Đối với Trần Văn Q, Nguyễn Trọng N1: Quá trình Công an kiểm tra quán K1 ngày 5/4/2023 còn phát hiện và bắt quả tang QN1 có hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho một số đối tượng tại quán hát. Cơ quan điều tra đã khởi tố đối với QN1 trong một vụ án khác. Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của H, L1, K. Do QN1 không biết việc H, L1, K tổ chức sử dụng ma túy, không cung cấp ma túy cho các bị cáo nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trong vụ án này là đúng pháp luật.

Đối với chị Ngô Thị H1 là người đứng tên chủ cơ sở kinh doanh Karaoke For you nhưng H1 giao cho chồng là Trần Văn Q quản lý, kinh doanh, H1 không biết việc H, L1, K sử dụng trái phép chất ma túy tại quán nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Đối với chiếc điện thoại 01 điện thoại Iphone 6s Plus màu vàng gắn sim số 0347851812 thu giữ của H, là điện thoại H sử dụng để gọi điện mua ma túy.

Đối với 01 điện thoại Iphone 13 màu trắng, có gắn sim số: 0964683364 và 01 điện thoại Iphone 6 plus màu xám, gắn sim số: 0325422883 thu giữ của Lò Thị L1. 01 điện thoại Iphone 13 màu hồng, gắn sim số: 0378696966 và 01 điện thoại VIVO Y20 màu xanh, không gắn sim thu giữ của Trương Văn K, L1K khai không sử dụng vào việc phạm tội.

Về vật chứng: Cần được xử lý như đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Thị Thu H, Lò Thị L1Trương Văn K phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

  1. Xử phạt: Nguyễn Thị Thu H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 05/4/2023.
  2. Lò Thị L1 07 ( bẩy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam 05/4/2023.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1,Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

  1. Trương Văn K 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 05/4/2023.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho tất cả các bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu để tiêu hủy:

  • 01 (một) phong bì mẫu vật của Phòng K2 Công an T2, có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và chữ ký, họ tên Nguyễn Thị Thu H, Lò Thị L1Trương Văn K.

Tịch thu để phát mại sung quỹ nhà nước:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, số Imel: 353278076976294, có gắn sim số: 0347851812 thu giữ của Nguyễn Thị Thu H.
  • -Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu trắng, số IMEI: 351606647223915, có gắn sim số: 0964683364 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu xám, số IMEI: 352050072870685, có gắn sim số: 0325422883 cho Lò Thị L1.
  • -Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng, số IMEI: 357084347748181, có gắn sim số: 0378696966 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y20 màu xanh, số IMEI: 864212057401768, không gắn sim cho Trương Văn K.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/9/2023 tại Chị cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, TP ..

Án phí:

Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo H, K, L1 mỗi bị cáo phải chịu: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức
  • - Bị cáo; - NCQLNVLQ;
  • - UBND xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 92/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu H và đồng phạm - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger