Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2023/HS-ST

Ngày 29/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Mỹ Oanh;
  2. Ông Trần Nghiệp Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trúc Giang- Kiểm sát viên.

Trong ngày 29/12/2023 tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 702023HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 842023QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 với các bị cáo:

  1. Ngô Quốc D sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh hộ khẩu thường trú: 473/3 đường H, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định nghề nghiệp: Không trình độ văn hoá (học vấn): 5/12 dân tộc: Kinh giới tính: Nam tôn giáo: Không quốc tịch: Việt Nam con ông Lê Nam bà Ngô Mai H án: Ngày 28/02/2014, TAND Quận 3 xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 32/2014/HS-ST); ngày 11/8/2017, TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 397/2017/HSPT) tiền sự: Không có; nhân thân: bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/01/2023 có mặt;
  2. Võ Xuân B năm 1988 Thành phố H khẩu thường trú: 453KA/13 đường L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 30/80/4 Tổ A, Ấp C, xã N, huyện H, Thành phố H nghiệp: Không có trình độ văn hoá (học vấn): 5/12 dân tộc: Kinh giới tính: Nam tôn giáo: Không quốc tịch: Việt Nam con ông Võ Văn Ú Bùi Thị Mỹ T án: Không có tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 25/8/2011, TAND quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 212/2011/HSST) bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/01/2023 có mặt;
  3. Nguyễn Viết Hoàng L năm 1985 Thành phố H khẩu thường trú: B đường T, Tổ E, Khu phố E, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; cư trú: Nhà không số, Tổ A, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố H nghiệp: Lao động tự do trình độ văn hoá (học vấn): 7/12 dân tộc: Kinh giới tính: Nam tôn giáo: Không quốc tịch: Việt Nam con ông Nguyễn Viết T1 Thân Thị Lộc tiền án: Ngày 18/01/2010, TAND quận Phú Nhuận xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 12/2010/HSST); ngày 19/7/2011, TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, tổng hợp hình phạt với Bản án số 12/2010/HSST là 11 năm tù (Bản án số 202/2011/HSST) tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 29/4/2003, TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 215/HSPT) bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/01/2023 có mặt.

Bị hại: Bà Dương Thanh T2, sinh năm 1988; địa chỉ: A L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Trọng T3, sinh năm 1989; địa chỉ: 3 tổ A, Ấp C, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 02 giờ 45 phút ngày 09/01/2023, sau khi uống rượu bia tại Quận A, Ngô Quốc D điều khiển xe mô tô hiệu Wave, biển số 62K1-4820, Võ Xuân B1 điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, biển số 93F1-102.60 chở Nguyễn Viết Hoàng L1 đi về. Khi đến Đường C tháng B, Phường G, Quận A, cả ba dừng xe trên lề đường, trú mưa. D phát hiện trước nhà số H đường C tháng B, Phường G, Quận A có bà Dương Thanh T2 đang đứng sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone X. D rủ B1, L1 chiếm đoạt điện thoại trên, B1, L1 đồng ý. Bằng điều khiển xe chở L1 chạy ngược chiều, đến gần bà T2 khoảng 3, 4 mét thì dừng lại để cảnh giới và cản địa nếu có truy đuổi. D điều khiển xe chạy trên lề đường, áp sát trước mặt bà T2 rồi dùng tay trái giật 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, sau đó tăng ga bỏ chạy. Bà T2 và ông Nguyễn Quốc C, chồng bà T2 chạy bộ T4 thì có một tài xế chạy xe grap (không rõ lai lịch) nghe thấy nên chở ông C truy đuổi. Bằng đứng cách bà T2 1,8 mét, nghe tiếng tri hô thì điều khiển xe chở L1 chạy ngang lề đường để cản trở truy đuổi rồi chạy theo sau xe của D. Khi chạy đến trước nhà số I lô C chung cư L, đường V, Phường G, Quận A, D nghe tiếng tri hô “Cướp” nên đưa điện thoại cho L1 giữ, nói “Anh giữ giúp em. Có người dí”. L1 cất giữ điện thoại trên. Sau khi đưa điện thoại cho L1, D điều khiển xe chạy vòng ngược lại thì anh tài xế xe và ông C đuổi kịp. Ông C nhảy vào người D để bắt giữ nhưng không trúng. D tiếp tục bỏ chạy thì anh tài xế truy đuổi tiếp. Trong lúc bỏ chạy, D té ngã, anh tài xế cùng người dân bắt giữ, giao Công an P1, Quận A. Công an P1, Quận A chuyển D đến Công an Q xử lý theo thẩm quyền. Lúc 20 giờ 00 ngày 10/01/2023, bà T2 đến Công an P2, Quận A trình báo.

Bằng điều khiển xe chở L1 đi hướng khác bỏ chạy thoát. Sáng ngày 10/01/2023, B1 đến nhà L1 thì L1 nói gọi D không được nên nghĩ là D đã bị bắt. Đến tối ngày 10/01/2023, L1 đến nhà B1, địa chỉ 30/80/4 tổ A, ấp C, xã N, huyện H uống bia rồi đưa điện thoại di động hiệu Iphone X (do D chiếm đoạt được) cho B1, đồng thời kêu Bằng cất giấu ở ngoài, đừng để trong nhà và nói “Bằng yên tâm. Vụ này Lâm chịu, không để liên can đến Bằng”. Bằng làm theo, mang điện thoại trên cất giấu tại chuồng gà trong sân nhà.

Qua lời khai của Ngô Quốc D, Cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Viết Hoàng L1 và lập biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Qua lời khai của L1, Cơ quan điều tra triệu tập Võ Xuân B1 và lập biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Bằng gọi điện thoại cho ông Võ Văn Ú1, là cha ruột, chỉ nơi cất giấu điện thoại di động hiệu Iphone X. Ông Ú1 mang điện thoại trên đến giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q.

Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 16/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự U, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, đã qua sử dụng trị giá 3.510.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Ngô Quốc D, Võ Xuân B1 khai nhận hành vi phạm tội như trên. Nguyễn Viết Hoàng L1 không thừa nhận hành vi phạm tội.

Bản cáo trạng số 71/CT-VKSQ11 ngày 11 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố các bị cáo Ngô Quốc DNguyễn Viết Hoàng L1 tội danh “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Võ Xuân B1 tội danh “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tại phiên tòa, các bị cáo D, B1 có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo L1 không thừa nhận hành vi phạm tội.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Ngô Quốc D từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; Nguyễn Viết Hoàng L1 từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù; Võ Xuân B1 từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; đồng thời đề nghị: Thông báo trong thời hạn luật định đối với một xe máy kiểu dáng Wave, biển số 62K1-4820, quá thời hạn mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; trả lại cho ông Nguyễn Trọng T3 01 xe máy kiểu dáng Sirius, biển số 93F1-102.60; tịch thu và tiêu hủy: 01 áo thun tay dài màu xanh, 01 quần jean dài màu xám bạc; trả lại cho bị cáo D: 01 điện thoại kiểu dáng Samsung Galaxy S6 và 01 điện thoại kiểu dáng S; trả lại cho bị cáo B1 01 điện thoại kiểu dáng Samsung Galaxy A11.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:

    Vào lúc 02 giờ 45 phút ngày 09/01/2023, tại trước nhà số H đường B, Phường G, Quận A, bị cáo Ngô Quốc D đã điều khiển xe mô tô hiệu Wave, biển số 62K1-4820 chạy trên lề đường, áp sát trước mặt bà Dương Thanh T2 (đang đứng trước nhà) nhanh chóng, bất ngờ giật chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X, trị giá 3.510.000 đồng của bà T2 rồi bỏ chạy. Võ Xuân B1 điều khiển xe Sirius, biển số 93F1-102.60 chở Nguyễn Viết Hoàng L1 chạy phía sau xe của bị cáo D để cảnh giới và cản trở người truy đuổi.

    Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L1 không thừa nhận việc cùng với các bị cáo D, B1 chiếm đoạt tài sản tại. Bị cáo L1 thừa nhận toàn bộ sự việc xảy ra vào rạng sáng ngày 09/01/2023 cũng như quá trình thực nghiệm điều tra cả ba bị cáo đều diễn tả lại được quá trình phạm tội, từ việc các bị cáo B1, L1 đứng chờ để bị cáo D giật điện thoại, quá trình di chuyển, giao điện thoại giật được.... nhưng L1 cho rằng chỉ ngồi trên xe để B1 chở đi, lúc đó L1 do uống bia, ngủ gục phía sau tựa đầu vào vai Bằng nên L1 không nhớ gì, không bàn bạc cũng như không đồng ý với các bị cáo D, B1 chiềm đoạt tài sản. Tuy nhiên, tại biên bản lấy lời khai ngày 13/01/2023, bị cáo L1 lại xác định khi ngồi phía sau xe để B1 chở bị cáo L1 vẫn còn thức. Căn cứ vào quá trình thực nghiệm điều tra, các lời khai của các bị cáo DB1; biên bản đối chất giữa bị cáo D và bị cáo L1, đối chất giữa bị cáo B1 và bị cáo L1; hình ảnh máy quay an ninh, lời khai của bị hại, nhân chứng đủ cơ sở kết luận hành vi đồng phạm của bị cáo L1.

    Các bị cáo bằng thủ đoạn công khai, nhanh chóng, bất ngờ chiếm đoạt tài sản của người khác rồi tẩu thoát. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, theo quy định của pháp luật thì hành vi dùng mô tô, xe máy để thực hiện việc cướp giật tài sản là tình tiết “dùng thủ đoạn nguy hiểm” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

    Ngoài ra, bị cáo D đã tái phạm nguy hiểm, bị cáo L1 đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, cả hai chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý. Do đó, hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo D, L1 đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Tái phạm nguy hiểm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Bản thân các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, lười lao động các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo dùng phương tiện mô tô, xe máy cướp giật tài sản của người đi đường không chỉ làm mất an ninh, trật tự công cộng, gây thiệt hại về tài sản mà còn có thể gây ra tai nạn cho bị hại, những người tham gia giao thông. Các bị cáo cùng nhau thống nhất thực hiện hành vi phạm tội nên mang tính đồng phạm nhưng giản đơn. Trong đó bị cáo D là người chủ mưu, rủ rê các bị cáo khác cùng phạm tội và cũng chính là người trực tiếp điều khiển phương tiện và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; các bị cáo L1, B1 là đồng phạm giúp sức.

    Các bị cáo D, B1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.

    Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

    - 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone X, là tài sản bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại bị hại là bà Dương Thanh T2. Bà T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    - 01 xe mô tô hiệu Wave biển số 62K1-4820 thu giữ của bị cáo D. Qua xác minh, xe do ông Nguyễn Đại P đứng tên. Năm 2011, ông P bán xe cho 01 người không rõ lai lịch. Bị cáo D cho biết xe trên mua của 01 đối tượng không rõ lai lịch. Ngày 10/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã có Công văn yêu cầu Ban biên tập Báo Công an thành phố H đăng B2 chủ sở hữu nhưng cho đến nay vẫn chưa có kết quả. Do đó, cần thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận, quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;

    - 01 xe mô tô hiệu Sirius biển số 93F1-102.60 bị cáo B1 sử dụng. Qua xác minh, xe do ông Nguyễn Trọng T3 đứng tên và sở hữu. Ngày 08/01/2023, ông T3 cho B1 mượn xe đi gặp bạn. Ông T3 không biết việc bị cáo B1 dùng xe để phạm tội nên trả lại xe cho ông T3.

    - 01 áo thun tay dài màu xanh, 01 quần jean dài màu xám thu giữ của bị cáo D không còn giá trị sử dụng, bị cáo D không yêu cầu nhận lại nên tịch thu và tiêu hủy;

    - 01 điện thoại di động hiệu Samsung S6 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung A23, là tài sản riêng của D nên trả lại cho bị cáo D.

    - 01 điện thoại di động hiệu S A11, là tài sản riêng của bị cáo B1 nên trả lại cho bị cáo B1.

    - 01 USB chứa hình ảnh vụ việc đã lưu vào hồ sơ vụ án.

  2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 17; Điều 50; điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Ngô Quốc D, Võ Xuân B1;

Căn cứ vào Điều 17; Điều 50; điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Viết Hoàng L1.

Tuyên bố các bị cáo Ngô Quốc D, Võ Xuân B1, Nguyễn Viết Hoàng L1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Quốc D 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Hoàng L1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2023.

Xử phạt bị cáo Võ Xuân B1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2023.

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

  • - Thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với một xe máy kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số 62K1-4820; quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
  • - Trả lại cho ông Nguyễn Trọng T3 01 xe máy kiểu dáng Sirius, màu trắng, biển số 93F1-102.60;
  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 áo thun tay dài màu xanh, 01 quần jean dài màu xám bạc;
  • - Trả lại cho bị cáo D: 01 điện thoại kiểu dáng Samsung Galaxy S6, màu vàng; 01 điện thoại kiểu dáng Samsung A23, màu xanh;
  • - Trả lại cho bị cáo B1 01 điện thoại kiểu dáng Samsung Galaxy A11, màu trắng;
  • (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 33/LNK-ĐCSHS ngày 25/3/2023).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015,

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PC 27 - CA TPHCM;
  • - VKSND Q.11;
  • - Công an Q.11;
  • - Chi cục THADS Q.11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Trần Thị Ánh Loan

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 92/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger