Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày: 29-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đào Văn Kiểm;
  2. Bà Đào Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 16/8/2024 đối với:

- Các bị cáo:

1. Vũ Văn T, sinh ngày 21/01/1994 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Hộ khẩu thường trú: Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Tổ B, khu C, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định và bà Vũ Thị T1; có vợ là Vũ Thị Thanh H và 01 con; Tiền sự có 01 tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐ-XPHC ngày 28/12/2023 của Công an xã T, thành phố V xử phạt Vũ Văn T 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, T chưa chấp hành; tiền án có 01 tiền án: Tại Bản án số 73/2017/HSST ngày 05/6/2017 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Vũ Văn T 7 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS), T thi hành xong hình phạt chính và ra trại ngày 27/9/2022; Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 305/QĐ-XPVPHC ngày 29/11/2013 của Công an thành phố V xử phạt Vũ Văn T 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, T đã chấp hành xong ngày 23/12/2013. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 80/QĐ-XPVPHC ngày 19/3/2015 của Công an thành phố V xử phạt Vũ Văn T 300.000 đồng về hành vi mua số lô, số đề, T đã chấp hành xong ngày 19/3/2015. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 55/QĐ-XPVPHC ngày 19/10/2015 của Phòng CSĐTTP về ma tuý Công an tỉnh P xử phạt Vũ Văn T hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 03/5/2024. Xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình, bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có việc làm ổn định, thường xuyên lang thang, tụ tập với các đối tượng nghiện ma tuý trong và ngoài địa phương, nếu ở ngoài xã hội bị cáo tiếp tục phạm tội nên đến ngày 08/5/2024 Cơ quan điều tra khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P, (Có mặt);

2. Nguyễn Văn H1, sinh ngày 20/3/1993; nơi cư trú: Khu I, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Vũ Thị T1; có vợ là Nguyễn Thị T3 và 02 con; tiền sự: Không; tiền án có 01 tiền án: Tại Bản án số 18/2020/HS-ST ngày 29/4/2020 của Toà án nhân dân huyện Thanh Ba xử phạt Nguyễn Văn H1 3 năm tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS), H1 thi hành xong hình phạt chính và ra trại ngày 27/9/2022; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 03/5/2024. Xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình, bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có việc làm ổn định, thường xuyên lang thang, tụ tập với các đối tượng nghiện ma tuý trong và ngoài địa phương, nếu ở ngoài xã hội bị cáo tiếp tục phạm tội nên đến ngày 08/5/2024 Cơ quan điều tra khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P, (Có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1954; Nơi cư trú: Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 00 phút ngày 03/5/2024 tại tổ C, khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ đang làm nhiệm vụ, phát hiện và kiểm tra một nam thanh niên có biểu hiện vi phạm pháp luật. Người này tự khai họ tên là Nguyễn Văn H1 – Sinh ngày 20/3/1993, trú tại khu I, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, H1 đã tự giác lấy từ túi quần bên trái đang mặc giao nộp cho cơ quan Công an 02 túi ma tuý có đặc điểm đều là 02 đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và khai nhận là ma tuý đá, tàng trữ mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H1 và thu giữ vật chứng nói trên, ngoài ra còn thu giữ của H1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu trắng vàng đã cũ, số imei 353290073120305 kèm sim số 0985.162.780. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với Nguyễn Văn H1, kết quả H1 dương tính với chất ma túy.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V đã ra quyết định trưng cầu giám định số chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 02 đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu thu giữ của Nguyễn Văn H1. Tại bản Kết luận giám định số 625/KLGĐ ngày 07/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:

“ Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 02 đoạn ống nhựa gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,402 gam

* Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

Hoàn trả lại 0,247 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Về nguồn gốc gói ma tuý, H1 khai nhận mua của một người đàn ông tên Vũ Văn T – Sinh ngày 21/01/1994, trú tại đội 2, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, chỗ ở hiện tại: Tổ 20, khu C, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Đối với Vũ Văn T, sau khi bán được ma tuý cho H1, T đi về nhà trọ tại tổ B, khu C, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (nhà trọ thuê của ông Dương Anh T4 – Sinh năm 1962 tại tổ B, khu C, phường V, thành phố V). Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, T đúc 01 túi ma tuý có đặc điểm là túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu cam, bên trong có 02 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong 02 túi chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng vào túi quần bên phải phía trước đang mặc đứng trước cửa nhà mục đích để bán với giá 500.000 đồng/túi thì tổ công tác khác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an thành phố V đến kiểm tra. T đã tự giác lấy từ túi quần bên phải phía trước đang mặc giao nộp túi ma tuý có đặc điểm như trên và khai nhận đó là ma tuý đá, mục đích để bán. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với T và thu giữ vật chứng nói trên, ngoài ra còn thu giữ của T: 01 điện thoại di động iphone vỏ màu bạc đã cũ, số imei 353318074277640 kèm 01 sim trong máy số 0855510289, tiền Việt Nam 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với Vũ Văn T, kết quả T dương tính với chất ma túy.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Văn T tại tổ B, khu C, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không thu giữ gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V đã ra quyết định trưng cầu giám định số chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 02 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu cam thu giữ của Vũ Văn T. Tại bản Kết luận giám định số 624/KLGĐ ngày 07/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:

“ Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 02 túi nilon gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,364 gam

* Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.”

Hoàn trả lại 0,219 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Tại cơ quan điều tra, Vũ Văn T và Nguyễn Văn H1 khai nhận như sau: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 01/5/2024, Vũ Văn T một mình đi đến khu vực K+500 đường C - Lào Cai thuộc xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để tìm mua ma tuý. Tại đây, T gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ, khoảng 30 tuổi và hỏi mua được 01 túi ma tuý có đặc điểm là 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu cam, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma tuý đá với giá 2.000.000 đ (hai triệu đồng). Sau khi mua được ma tuý, T cầm túi ma tuý về nhà tách lấy một phần sử dụng cho bản thân, phần còn lại chia thành bốn phần, hai phần đúc vào hai đoạn ống nhựa màu hồng hàn kín hai đầu, hai phần còn lại đúc vào 02 túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu đỏ rồi đúc vào túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu cam cất giấu vào túi quần đang mặc, mục đích để bán với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) 01 túi hoặc 01 ống ma tuý.

Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, Nguyễn Văn H1 gọi điện thoại từ tài khoản zalo “Tô Trâu” đến tài khoản zalo “Tienxmax” của Vũ Văn T để hỏi mua 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tiền ma tuý. T đồng ý và bảo H1 chuyển tiền ma tuý cho T. H1 chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng M số tài khoản 771993666888 đến tài khoản ngân hàng M số tài khoản 19946399999 của T số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, T hẹn H1 ra khu vực gần đường sắt thuộc phường V, thành phố V để giao ma tuý. Đến chỗ hẹn, T đưa cho H1 02 gói ma tuý đá có đặc điểm là 02 đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma tuý đá. H1 cầm 02 gói ma tuý vừa mua được bắt taxi của anh Hà Thành Đ – sinh năm 1999, trú tại khu D, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ đến khu vực cổng trường Đại học H2 xuống xe để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác kiểm tra bắt quả tang như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, H1 khai nhận bản thân bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2019, lần gần nhất H1 sử dụng ma túy là ngày 01/5/2024, H1 mua ma túy của một người đàn ông không quen ở khu vực quận L, thành phố Hà Nội và đã sử dụng hết cho bản thân.

Tại bản Cáo trạng số: 90/CT-VKS-VT ngày 01 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Văn H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo Nguyễn Văn H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

*Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn T từ 39 tháng đến 42 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 33-36 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.

*Về hình phạt bổ sung:

- Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Đối với số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) là tiền do T lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, cần tịch thu vào ngân sách nhà nước.

*Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoảng 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

-Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 bì niêm phong số 624/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có chứa 0,219 gam ma túy Methamphetamine.
  • + 01 bì niêm phong số 625/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có chứa 0,247 gam ma túy Methamphetamine.
  • + 01 sim số 0985.162.780 (của Nguyễn Văn H1).
  • + 01 sim số 08555.10.289 (của Vũ Văn T).

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu trắng vàng đã cũ, số imei 353290073120305 (thu giữ của H1).
  • + 01 điện thoại di động iphone vỏ màu bạc đã cũ, số imei 353318074277640 (thu giữ của T);
  • + Tiền Việt Nam 1.000.000đ (một triệu đồng).

*Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H1 và bị cáo Vũ Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi cấu thành tội phạm của các bị cáo:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và vật chứng cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, tại phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Vũ Văn T có hành vi bán trái phép khối lượng 0,402 gam ma tuý Methamphetamine cho Nguyễn Văn H1 được số tiền 1.000.000 đồng. Đến hồi 12 giờ 00 phút cùng ngày, tại tổ C, khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, H1 bị Tổ công tác Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang, thu giữ khối lượng ma tuý 0,402 gam ma tuý Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hồi 13 giờ 20 phút ngày 03/5/2024, tại tổ B, khu C, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Vũ Văn T có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,364 gam ma túy Methamphetamine mục đích để bán thì bị Tổ công tác Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Như vậy, T phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng 0,766 gam ma túy Methamphetamine gồm: Khối lượng 0,402 gam ma tuý Methamphetamine bán cho Nguyễn Văn H1, khối lượng 0,364 gam ma túy Methamphetamine bị thu giữ khi bắt quả tang.

Hành vi của Vũ Văn T và Nguyễn Văn H1 là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội.

Hành vi nêu trên của Vũ Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Hành vi của Nguyễn Văn H1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

[3] Về tớnh chất, mức độ nghiờm trọng của hành vi phạm tội:

Xột, hành vi phạm tội của cỏc bị cỏo thuộc loại tội phạm nghiờm trọng do lỗi cố ý. Hành vi nờu trờn của cỏc bị cỏo khụng những đó xõm phạm đến chớnh sỏch độc quyền quản lý của nhà nước về cỏc chất ma tỳy mà cũn gõy mất trật tự trị an xó hội. Cỏc bị cỏo nhận được tỏc hại của ma tỳy nhưng vẫn cố tỡnh thực hiện. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiờm minh trước phỏp luật.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy rằng:

- Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều có nhân thân, nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn phạm tội cụ thể:

  • + Đối với bị cáo Vũ Văn T: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐ-XPHC ngày 28/12/2023 của Công an xã T, thành phố V xử phạt Vũ Văn T 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, T chưa chấp hành; Tại Bản án số 73/2017/HSST ngày 05/6/2017 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Vũ Văn T 7 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS), T thi hành xong hình phạt chính và ra trại ngày 27/9/2022; Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 305/QĐ-XPVPHC ngày 29/11/2013 của Công an thành phố V xử phạt Vũ Văn T 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, T đã chấp hành xong ngày 23/12/2013. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 80/QĐ-XPVPHC ngày 19/3/2015 của Công an thành phố V xử phạt Vũ Văn T 300.000 đồng về hành vi mua số lô, số đề, T đã chấp hành xong ngày 19/3/2015. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 55/QĐ-XPVPHC ngày 19/10/2015 của Phòng CSĐTTP về ma tuý Công an tỉnh P xử phạt Vũ Văn T hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý
  • +Đối với bị cáo Nguyễn Văn H1: Tại Bản án số 18/2020/HS-ST ngày 29/4/2020 của Toà án nhân dân huyện Thanh Ba xử phạt Nguyễn Văn H1 3 năm tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS), H1 thi hành xong hình phạt chính và ra trại ngày 27/9/2022.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Văn T và bị cáo Nguyễn Văn H1 đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo Vũ Văn T và bị cáo Nguyễn Văn H1 hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo từ bỏ được ma túy và cải tạo thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung:

*Về hình phạt bổ sung:

- Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Tịch thu vào ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) của Vũ Văn T là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,b,c khoảng 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

-Tịch thu tiêu hủy:

  • +01 bì niêm phong số 624/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có chứa 0,219 gam ma túy Methamphetamine là phù hợp.
  • + 01 bì niêm phong số 625/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có chứa 0,247 gam ma túy Methamphetamine là phù hợp.
  • + 01 sim số 0985.162.780 trong máy điện thoại di động của Nguyễn Văn H1 là phù hợp
  • + 01 sim số 08555.10.289 trong máy điện thoại di động của Vũ Văn T là phù hợp

-Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) là tiền T bán ma tuý cho H1 mà có là phù hợp.

- Tịch thu sung công:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu trắng vàng đã cũ, số imei 353290073120305 (thu giữ của H1).
  • + 01 điện thoại di động iphone vỏ màu bạc đã cũ, số imei 353318074277640 (thu giữ của T);

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Vũ Văn T và Nguyễn Văn H1 ngày 01/5/2024, Công an thành phố V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức Cảnh cáo là phù hợp.
  • - Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho T và H1, quá trình điều tra không xác định được nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
  • - Đối với anh Hà Thành Đ là người lái xe taxi chở Nguyễn Văn H1 và ông Dương Anh T4 là người cho T thuê nhà trọ. Anh Đ và ông T4 đều không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của T và H1, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp.

[8] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1, khoản 5 Điều 251 Bộ Luật hình sự; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự (Đối với Vũ Văn T);

Căn cứ vào Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự (Đối với Nguyễn Văn H1);

Căn cứ vào điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

* Về hình phạt chính:

+ Xử phạt bị cáo: Vũ Văn T 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/5/2024

+ Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn H1 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/5/2024.

* Về hình phạt bổ sung:

- Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) của Vũ Văn T.

* Về xử lý vật chứng:

-Tịch thu tiêu hủy:

  • +01 bì niêm phong số 624/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có chứa 0,219 gam ma túy Methamphetamine.
  • + 01 bì niêm phong số 625/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả mẫu vật sau giám định bên trong có chứa 0,247 gam ma túy Methamphetamine.
  • + 01 sim số 0985.162.780 trong máy điện thoại di động của Nguyễn Văn H1.
  • + 01 sim số 08555.10.289 trong máy điện thoại di động của Vũ Văn T.

-Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) là tiền T bán ma tuý cho H1 mà có.

- Tịch thu sung công:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu trắng vàng đã cũ, số imei 353290073120305 (thu giữ của H1).
  • + 01 điện thoại di động iphone vỏ màu bạc đã cũ, số imei 353318074277640 (thu giữ của T);

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/8/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố V và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì và theo Biên lai thu tiền số 0004759 ngày 05/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).

* Về án phí: Buộc các bị cáo Vũ Văn T và Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND TP. Việt Trì;
  • - Công an TP. Việt Trì;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS TP. Việt Trì;
  • - UBND nơi b/c cư trú;

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Tiến và Nguyễn Văn Hiệp Mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger