Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG


Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/8/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hoà
  2. Bà Vũ Kim Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng: Bà Vũ Thị Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 79/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Tô Thị T - sinh năm 1989; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm B, thị trấn X, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
  • Bị đơn: Ông Hà Hùng C - sinh năm 1988; Nơi ĐKTT: Tổ F, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

Hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Q, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Tô Thị T trình bày:

Bà và ông Hà Hùng C đăng ký kết hôn ngày 18/02/2013 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới tại hai bên gia đình.

Về quá trình chung sống: Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 06 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông C nghiện ma tuý, không quan tâm gia đình. Nay bà T xác nhận vợ chồng không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông C.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Hà Thế H (Giới tính: Nam, sinh ngày 06/3/2014).

Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được là người trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác nhận quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai được Trại giam Q xác nhận ngày 22/7/2024, bị đơn ông Hà Hùng C có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân, ông xác nhận ông và bà T có quan hệ vợ chồng như bà T trình bày. Ông nhất trí ly hôn bà T.

Về con chung: Ông xác nhận vợ chồng có 01 con chung như bà T trình bày.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông xác nhận quá trình chung sống, vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ chung.

Tại Biên bản xác minh ngày 17/7/2024, ông Phạm Trung H1 – Tổ trưởng tổ F, phường N cho biết: Bà Tô Thị T và ông Hà Hùng C là vợ chồng. Sau khi kết hôn sinh sống một thời gian tại tổ F, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

Hiện nay ông C đã đăng ký thường trú tại tổ F, phường N nhưng đang chấp hành án tại Quảng Ninh.

Ông C và bà T đã ly thân từ lâu, theo ông biết khoảng 10 năm.

Vợ chồng có 01 con chung là Hà Thế H, sinh năm 2014, hiện nay con chung đang ở với ông bà nội.

Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo tổ được biết là do ông C sử dụng ma tuý. Tuy nhiên, tổ chưa hoà giải lần nào.

Tại Biên bản lấy lời khai của con chưa thành niên ngày 29/7/2024, cháu Hà Thế H có ý kiến như sau: Trường hợp bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng sống cùng mẹ.

Tại phiên toà, các bên đương sự vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia tố tụng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng theo quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có sai phạm.

Quan điểm của việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Tô Thị T. Về con chung: giao 01 con chung là Hà Thế H cho bà Tô Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con với ông Hà Hùng C.

Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự xác nhận không có, không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị T và ông Hà Hùng C đăng ký kết hôn ngày 18/02/2013 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới tại hai bên gia đình. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông C là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn, bà T và ông C chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà T là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông C nghiện ma túy, không quan tâm đến gia đình. Nay bà T xác nhận tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn ông C. Ông C cũng nhất trí ly hôn bà T.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông C chỉ tồn tại trên danh nghĩa, tình cảm yêu thương quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau đã không còn, mâu thuẫn đã đến mức độ trầm trọng nên cần cho ly hôn theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

[2.2] Về con chung: Hai bên đương sự xác nhận quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Hà Thế H (Giới tính: Nam, sinh ngày 06/3/2014).

Quá trình giải quyết vụ án bà T đề nghị được nuôi con chung và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con với ông Hà Hùng C.

Xét thấy hiện nay ông Hà Hùng C đang chấp hành án tại Trại giam Q, đồng thời, nguyện vọng của con chung muốn được chung sống với mẹ nên cần giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi thành niên.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều xác nhận quá trình chung sống không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 238 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị T. Xử cho bà Tô Thị T được ly hôn ông Hà Hùng C.
  • Về con chung: Giao con chung là cháu Hà Thế H (Giới tính: Nam, sinh ngày 06/3/2014) cho bà Tô Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  • Về tài sản chung, nợ chung: các bên đương sự đều xác nhận quá trình chung sống không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Tô Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà T đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001029 ngày 15/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Xác nhận bà T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  • Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Các bên đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án TP Cao Bằng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đinh Thị Hoài Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn Tô Thị T - Hà Hùng C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger