Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày: 29/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Gái

Các Hội thẩm nhân dân: bà Bùi Thị Kim Loan và bà Nguyễn Thị Hiền

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Phạm Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXX-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn T; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 01/01/1987 tại huyện T, tỉnh Sơn La;

Nơi thường trú: bản mớ, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La.

Nơi ở hiện tại: tổ D, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; trình độ văn hóa: không biết chữ; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Quàng Văn K và con bà Lò Thị T1; vợ: Lò Thị T2, sinh năm: 1986; có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/3/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: bà Vũ Thị Nguyệt N, Luật sư thực hiện Trợ giúp pháp lý, Trung tâm T5, Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

* Người chứng kiến:

  1. Ông Trần Văn T3, sinh năm 1961; nơi cư trú: tổ A, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  2. Ông Lại Văn L, sinh năm 1964; nơi cư trú: tổ I, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 12 giờ 20 phút, ngày 29/3/2024, tại tổ F, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Công an thành phố C bắt quả tang Quàng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng cho bản thân. Thu giữ trên tay phải của T 01 gói giấy, bên trong chứa 0,169 gam chất bột màu trắng. T4 tại túi quần bên trái của T 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Masstel vỏ màu đen, bên trong lắp sim số 0387439490.

Bản kết luận giám định số 441/KL-KTHS ngày 02/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Chất bột màu trắng có trong 01 gói giấy màu trắng thu giữ của Quàng Văn T là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,169 gam. H lại: 0,12 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn T đều khai nhận sử dụng ma túy Heroine từ năm 2018; khoảng 12 giờ 00 phút ngày 29/3/2024 bị cáo có nhu cầu sử dụng ma túy nên gọi điện thoại cho người đàn ông quen biết (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 200.000 đồng ma túy heroine, anh ta đồng ý hẹn bị cáo đến ngã tư đèn đỏ đường Thanh niên để giao dịch; bị cáo đến điểm hẹn thấy thanh niên đó đã chờ sẵn và bảo bị cáo ngồi lên xe chở đi, trên đường đi bị cáo đưa cho anh ta 200.000 đồng, đi đến trạm y tế phường C bị cáo xuống xe chờ khoảng 15 phút sau anh ta quay lại đưa bị cáo 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa ma túy heroine, mua được ma túy bị cáo tìm nơi sử dụng thì bị bắt quả tang.

Người chứng kiến các ông Lại Văn L, Trần Văn T3 đều trình bày: khoảng 12 giờ 20 phút, ngày 29/3/2024 tại khu vực thuộc tổ F, khu N, phường C, thành phố C thấy Công an đang kiểm tra bắt giữ một người đàn ông khai tên Quàng Văn T, sinh năm 1987, trú tại bản Mớ, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; Công an thu trên tay phải của T 01 gói giấy bên trong chứa chất bột trắng đục dạng cục, T khai nhận là ma túy H1, thu tại túi quần bên trái T đang mặc 01 Điện thoại nhãn hiệu Masstel vỏ màu đen, lắp 01 sim.

Bản Cáo trạng số: 1258/CT-VKSCP ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Quàng Văn T từ 12 đến 15 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/3/2024.

Đề nghị áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam ma túy, loại Heroine do cơ quan giám định hoàn lại là vật cấm lưu hành và 01 Sim điện thoại thu của bị cáo do không còn giá trị sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 Điện thoại Masstel thu giữ của bị cáo do có liên quan đến việc phạm pháp.

Người bào chữa cho bị cáo bà Nguyễn Thị Nguyệt N1 có quan điểm: Nhất trí với tội danh và hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo là người dân tộc sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, là cá nhân thuộc hộ nghèo, bản thân không biết chữ, tại phiên tòa khai nhận thành khẩn hành vi phạm pháp, ăn năn hối cải, các con của bị cáo hiện do ông bà nuôi dưỡng nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn T khai nhận tội, bị cáo không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn T đều khai nhận hồi 12 giờ 20 phút ngày 29/3/2024, tại tổ F, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,169 gam (không phảy một sáu chín gam) ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết luận giám định số: 441/KL-KTHS; lời khai người chứng kiến ông Lê Văn L1, ông Trần Văn T3, Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 30 phút ngày 29/3/2024, phù hợp với vật chứng thu giữ cùng nhiều tài liệu chứng cứ khác có lưu trong hồ sơ vụ án.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận: hồi 12 giờ 20 phút ngày 29/3/2024 tại tổ F, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Quàng Văn T có hành vi tàng trữ 0,169 gam (không phảy một sáu chín gam) ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Vậy việc truy tố đối với bị cáo Quàng Văn T như nội dung bản Cáo trạng số 1258/CT-VKS-CP ngày 04/7/2024 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội; với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo là phù hợp theo quy định.

Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và xâm hại đến trật tự quản lý của nhà nước về chất ma túy gây mất trật tự tại địa phương, bị cáo biết được tác hại của ma túy song do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, với mục đích mua ma túy để sử dụng, khi bị cáo chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ, hành vi của bị cáo thực hiện tiếp tay cho đối tượng bán trái phép chất ma túy, là cầu nối làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nên cần xử lý nghiêm.

Song cũng cần xét: bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bản thân không biết chữ, tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội nên cần xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[3] Hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng: gồm 0,12 gam ma túy, loại Heroine do cơ quan giám định hoàn lại là vật cấm lưu hành, 01 Sim điện thoại thu giữ của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên đều tịch thu tiêu hủy theo quy định. 01 Điện thoại nhãn hiệu Masstel thu giữ của bị cáo có liên quan đến việc phạm pháp nên tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước.

[5] Bị cáo khai nhận mua ma túy của người không rõ lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

[6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, sống ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo đề nghị được miễn nộp án phí hình sự, nên bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Quàng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Quàng Văn T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/3/2024.

Căn cứ: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam ma túy, loại Heroine trong niêm phong số 441/KL-KTHS của phòng K1 Công an tỉnh Q và 01 Sim điện thoại thu giữ của bị cáo Quàng Văn T.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 Điện thoại nhãn hiệu Masstel, màu đen (điện thoại thu giữ của Quàng Văn T), điện thoại đã qua sử dụng, đã cũ.

Vật chứng được thi hành theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 137/BB-THA ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Quàng Văn T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh ;
  • - VKSND thành phố Cẩm Phả;
  • - CQĐT CA thành phố Cẩm Phả;
  • - CQTHA HS thành phố Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS tp Cẩm Phả;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS - VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Gái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger