Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-ST

Ngày 29-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

Ông Bùi Văn Dũng

- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh, là Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 Toà án nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 392/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N (tên gọi khác: Đàm, N), sinh ngày 17 tháng 01 năm 1985 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị M; có vợ là Nguyễn Thị Thanh T và 01 con sinh năm 2022; tiền án: Tại Bản án số 50/2009/HSST ngày 30/3/2009, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Bản án số 59/2022/HSST ngày 04/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; nhân thân: Có 01 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 148/2014/HSST ngày 18/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng; bị bắt tạm giữ ngày 27/12/2023, tạm giam ngày 29/12/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ ngày 27/12/2023, tổ công tác thuộc Công an phường T, quận L, Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra trên tuyến đường T. Khi đi đến khu vực đầu ngõ A T đã phát hiện Nguyễn Văn N đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B5-858.89 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên đã tiến hành áp sát, kiểm tra N. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an thu giữ trên tay trái của N 01 túi nilon màu trắng có mép đóng mở viền đỏ, kích thước 03cm x 4,5cm, bên trong có 02 gói giấy màu bạc, mỗi gói kích thước 01cm x 02cm, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy). Tổ công tác đã thu giữ túi nilon chứa chất bột trên và thu giữ của N 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B5-858.89 và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Sau đó, tổ công tác đã đưa N cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an phường T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 1087/KL-KTHS(MT) ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,19 gam, loại: Herone.

Nguyễn Văn N khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B5-858.89 đi từ Bệnh viện T1 sang khu vực chắn tàu đường T, quận L, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma tuý Heroine về sử dụng. Tại đây, N gặp một người nam giới (không rõ lai lịch) và hỏi mua của người này 100.000 đồng ma tuý Heroine. N đưa tiền cho người nam giới trên. Sau đó, người nam giới này bảo N chở đến khu vực ngõ A T, quận L, thành phố Hải Phòng rồi đi sâu vào trong ngõ đến một ngách rẽ thì dừng lại và bảo N đứng ngoài đợi. Khoảng 03-05 phút sau, nam giới quay lại chỗ N đợi và đưa cho N 01 bao thuốc lá Thăng Long. N biết bên trong bao thuốc lá có chứa H1 và cầm bao thuốc lá cất vào túi áo khoác ngoài bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô ra khu vực đầu ngõ A T, còn nam giới đưa ma tuý đi đâu N không rõ. Khi đi đến khu vực đầu ngõ A T, N dừng xe lấy bao thuốc lá ra bằng tay phải và dùng tay trái lấy trong bao thuốc lá một túi nilon trắng có mép đóng mở viền màu đỏ bên trong có 02 gói giấy màu bạc thì bị tổ công tác Công an phường T kiểm tra bắt giữ.

Tại bản Cáo trạng số 90/CT-VKSLC ngày 16 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như nội dung trên; ngoài ra bị cáo khai mục đích mua về để sử dụng cho bản thân ngoài ra không có mục đích nào khác.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong lượng ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 1087MT/PC09; 01 vỏ bao thuốc lá Thắng L màu vàng.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B5-858.89, quá trình điều tra đến nay chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với nam giới bán ma túy cho N ngày 27/12/2023, N khai không biết lai lịch, địa chỉ. Ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L thu thập được tài liệu chứng cứ khác nên không có cơ sở điều tra làm rõ; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án dã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Hồi 10 giờ ngày 27/12/2023, Nguyễn Văn N có hành vi cất giữ trái phép 0,19 gam Heroine tại khu vực đầu ngõ A T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết định khung: Tại bản án số 50/2009/HSST ngày 30/3/2009, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa chấp hành xong phần dân sự (chưa bồi thường thiệt hại cho bị hại); Tại bản án số 59/2022/HSST ngày 04/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ra tù ngày 06/4/2023. Đối với 02 bản án này đến nay chưa được xoá, nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.

[5] Bị cáo biết hành vi cất giữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do là đối tượng sử dụng ma tuý từ nhiều năm nay nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; Kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình là có căn cứ chấp nhận.

- Về hình phạt áp dụng:

[7] Về nhân thân bị cáo: Ngoài 02 tiền án chưa được xoá nêu trên bị cáo còn có 01 tiền án đến nay đã xoá: tại Bản án số 148/2014/HSST ngày 18/12/2014, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Qua đó cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xét xử nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý.

[8] Từ những phân tích trên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

[9] Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Lượng ma tuý thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,19g Heroin; sau khi lấy 0,07g đi giám định lượng còn lại và vỏ bao gói của mẫu vật được niêm phong lạo trong 01 bì giấy có dấu niêm phong số 1087MT/PC09 có chữ ký của những người có liên quan cùng 01 vỏ bao thuốc lá Thắng L, màu vàng. Xét đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, đối chiếu điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

- Về án phí:

[11] Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo luật định.

- Về quyền kháng cáo:

[12] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn N 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 12 năm 2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy có giấy niêm phong số 1087MT/PC09 và có chữ ký của những người có liên quan, bên trong đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao của mẫu vật; 01 vỏ bao thuốc lá Thắng L, màu vàng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận L và Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an Quận Lê Chân + PV 06 + PC10;
  • - Trại tạm giam Công an Hải Phòng;
  • - Bị cáo + THAHS;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp Hải Phòng;
  • - UBND thị trấn Minh Đức, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 92/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N - TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger