|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2024/HS-ST Ngày: 28 – 5 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Lê Bửu Thiện;
- Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Huệ;
- Bà Cao Thị Én.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Hữu Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Kim Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn P, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2000, tại tỉnh Nghệ An.
Tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: G, khu phố G, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Công nhân; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: Lớp 09/12.
Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không.
Con ông: Nguyễn Đức L, sinh năm 1977 và bà Mai Thị H, sinh năm 1980.
Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con út trong gia đình và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 29/11/2022, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 488/LTG-VPCQCSĐT ngày 07/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
- Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo Nguyễn Văn P: Luật sư Vũ Mạnh H1 - Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: A (số C) P, phường T, B, Đồng Nai.
- Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn T1;
Người đại diện theo pháp luật: Ông NG YIH PYNG, sinh năm 1971 – Chức danh: Tổng giám đốc.
Địa chỉ: đường số D, khu công nghiệp A, phường L, B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Trọng Đ, sinh năm 1988.
Địa chỉ: số F, ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Võ Văn H2, sinh năm 1990.
Địa chỉ: 4 H, khu phố F, phường L, B, Đồng Nai.
Địa chỉ liên lạc: 159 tổ A, khu phố F, phường L, B, Đồng Nai.
-
Ông Lê Nguyễn Thiện Y, sinh năm 1988.
Địa chỉ: I B, tổ A, khu phố F, phường L, B, Đồng Nai.
(Bị cáo P, ông Đ, Luật sư H1 có mặt; ông H2, ông Thiện Y vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn P là công nhân làm việc tại phòng nguội, được giao nhiệm vụ gia công các trang sức vàng của Công ty trách nhiệm hữu hạn T1, địa chỉ tại đường số D, Khu công nghiệp A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có 100% vốn đầu tư của người Malaysia chuyên nhập các trang sức bằng vàng 22K để gia công rồi xuất khẩu ra nước ngoài. Trong quá trình làm việc tại Công ty, P thấy việc quản lý vàng giao cho nhân viên có sơ hở nên đã nảy sinh ý định trộm vàng của Công ty bằng cách lấy ốc vít, dây đồng thay cho vàng để bán lấy tiền tiêu xài và trả nợ, cụ thể như sau:
Bộ phận kho của Công ty phát hàng, trang sức bằng vàng 22K (nhẫn, dây chuyền...) từ kho dưới dạng vàng thô rồi chuyển đến phòng nguội giao cho P để gia công cắt gọt những miếng vàng nhỏ bám ở trang sức để thành sản phẩm, đồng thời phát kèm theo 02 hộp Inox để đựng trang sức đã thành phẩm và vàng vụn được cắt gọt ra. Sau khi ký nhận số lượng trang sức vàng thô, P tiến hành gia công từ trang sức vàng thô ra thành sản phẩm. Đến cuối ca làm việc, P giao hộp Inox đựng trang sức thành phẩm cho công ty còn hộp Inox đựng vàng dư ra do cắt gọt thì P giữ tại phòng làm việc. Sau đó, P sử dụng máy khò, đốt số vàng trên chảy ra thành dạng lỏng, khi vàng nguội sẽ đóng lại thành một cục để chiếm đoạt. P sử dụng cân điện tử, cân để biết trọng lượng vàng dư, sau đó lấy ốc vít, dây đồng đã chuẩn bị sẵn có trọng lượng tương đương với vàng, bỏ vào hộp Inox rồi khóa lại. Để tránh khỏi bị phát hiện vàng P trộm cắp, P bỏ số vàng trên vào trong bao thuốc lá, giấu trong người. Khi tan ca, P cầm bao thuốc lá chứa vàng đi ra khỏi công ty.
Với thủ đoạn trên, trong thời gian từ ngày 20/9/2022 đến ngày 20/11/2022, P đã nhiều lần chiếm đoạt vàng của Công ty trách nhiệm hữu hạn T1, với tổng trọng lượng là 1.706,63 gram vàng 22K. Sau đó, P đem đến tiệm kinh doanh vàng bạc “Kim Thành Quốc B”, địa chỉ A, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do ông Lê Nguyễn Thiện Y, sinh năm 1988 làm chủ và tiệm kinh doanh vàng bạc “Kim Thành T”, địa chỉ D, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do ông Võ Văn H2, sinh năm 1990 làm chủ, bán được số tiền 1.500.000.000 đồng. Do không biết số vàng trên do P phạm tội mà có nên ông Y và ông H2 đã mua rồi chế tác lại thành trang sức và bán cho khách hàng nên không thu hồi được. Đến ngày 28/11/2022, P đến Công an thành phố B đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như đã nêu trên.
*Vật chứng vụ án:
- 01 (một) phương tiện điện tử (đầu thu) nhãn hiệu HIKVISION model DS-7204HGHI-K1 đã trả lại cho anh Lê Nguyễn Thiện Y chủ tiệm V;
- 01 (một) phương tiện điện tử (đầu thu) nhãn hiệu HIKVISION model DS-7204HQHI-M1/S đã trả lại cho anh Võ Văn H2 chủ tiệm V;
- - 01 (một) cân điện tử (tiểu ly) hiệu Digital Pocket Scane do Trung Quốc sản xuất;
- - 04 gam (bốn gam) dây đồng;
- - 07 (bảy) bịch nilon đựng kim loại màu đồng, ốc vít, bù lon, lò so;
- - 02 (hai) lò so bằng sắt (trong đó, 01 lò so bằng sắt dài khoảng 2,6cm và 01 lò so bằng sắt dài khoảng 7,5cm).
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 2308/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố B kết luận: “1.647,17 gram vàng 22K (916) giá trị 2.042.490.800 đồng.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 4198/STC- HĐĐGTSTTHT ngày 20/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Đồng Nai kết luận: “61.46 gram vàng 22K giá trị 76.433.600 đồng.
Tại Kết luận giám định số 2026/KL-KTHS ngày 27/6/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Trích xuất toàn bộ dữ liệu video tìm thấy được lưu trong đầu thu camera gửi giám định ký hiệu A2 trong khoảng thời gian từ tháng 9/2022 trở về sau. Chi tiết dữ liệu trong thiết bị lưu trữ kèm theo Kết luận giám định này.
- Không tìm thấy dữ liệu video trong đầu thu camera gửi giám định ký hiệu Al trong khoảng thời gian từ tháng 9/2022 trở về sau.
*Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Hà Trọng Đ là đại diện bị hại Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn P bồi thường số tiền 2.307.403.893 đồng nhưng bị cáo P chưa bồi thường.
I. Truy tố: Cáo trạng số: 274/CT-VKS-P2 ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
II. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Căn cứ theo điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 16 (mười sáu) năm tù đến 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 11 năm 2022.
- - Xử lý vật chứng tịch thu tiêu hủy.
- - Buộc bị cáo bồi thường theo quy định pháp luật.
- - Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
III. Quan điểm của Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên tòa:
Thống nhất theo đề nghị truy tố của đại diện Viện kiểm sát về tội danh đối với bị cáo Nguyễn Văn P, xin Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đã hợp tác với cơ quan điều tra, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; không có tiền án tiền sự, nhân thân tốt; gia đình có công với Cách mạng. Để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
IV. Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo cho rằng tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép buộc, không bị ép cung hay bức cung. Kết luận điều tra cũng như Bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước tòa hoàn toàn phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của các bị cáo được bảo đảm. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.
[2] Về tội danh:
Trong thời gian từ ngày 20/9/2022 đến ngày 20/11/2022, tại Công ty trách nhiệm hữu hạn T1, địa chỉ đường số D, Khu công nghiệp A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn P đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp 1.706,63 gram vàng 22K, trị giá 2.118.924.400 đồng của Công ty bằng thủ đoạn lấy ốc vít, dây đồng thay cho vàng. Sau đó, P đem đến bán cho tiệm kinh doanh vàng bạc “Kim Thành Quốc B”, do Lê Nguyễn Thiện Y làm chủ và tiệm kinh doanh vàng bạc “Kim Thành T”, do Võ Văn H2 làm chủ, được số tiền 1.500.000.000 đồng, số tiền này P đã trả nợ và tiêu xài hết. Đến ngày 28/11/2022, P đến Công an thành phố B đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như đã nêu trên.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố, là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[3] Đánh giá về tích chất mức độ hành vi của các bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm và đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của cộng đồng, tác động rất xấu đến tình hình trị an tại địa phương. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[3.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; gia đình bị cáo có công với Cách mạng, có ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng:
Những công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy, như sau:
- - 01 (một) cân điện tử (tiểu ly) hiệu Digital Pocket Scane do Trung Quốc sản xuất;
- - 04 gam (bốn gam) dây đồng;
- - 07 (bảy) bịch nilon đựng kim loại màu đồng, ốc vít, bù lon, lò so;
- - 02 (hai) lò so bằng sắt (trong đó, 01 lò so bằng sắt dài khoảng 2,6cm và 01 lò so bằng sắt dài khoảng 7,5cm).
[5] Về trách nhiệm dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn P bồi thường số tiền 2.307.403.893 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý; đây là sự tự nguyện của các bên, không trái với quy định của pháp luật nên ghi nhận. Buộc bị cáo Nguyễn Văn P bồi thường cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 số tiền 2.307.403.893 đồng.
[6] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[7] Lời bào chữa của Luật sư cho bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên tòa nêu lên các tình tiết giảm nhẹ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được xem xét chấp nhận.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 78.148.000 đồng (làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
-
Căn cứ theo điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 11 năm 2022.
-
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy những công cụ dùng vào việc phạm tội như sau:
- - 01 (một) cân điện tử (tiểu ly) hiệu Digital Pocket Scane do Trung Quốc sản xuất;
- - 04 gam (bốn gam) dây đồng;
- - 07 (bảy) bịch nilon đựng kim loại màu đồng, ốc vít, bù lon, lò so;
- - 02 (hai) lò so bằng sắt (trong đó, 01 lò so bằng sắt dài khoảng 2,6cm và 01 lò so bằng sắt dài khoảng 7,5cm);
- (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
-
Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn P bồi thường số tiền 2.307.403.893 đồng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T1.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
-
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 78.148.000 đồng (làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại được quyền làm đơn kháng cáo bản án; ông H2, ông T Y được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Lê Bửu Thiện |
Bản án số 92/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 92/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội trộm cắp tài sản
