|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/05/2024
V/v “Tranh chấp xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam, bà Trần Thanh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 212/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 04 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 273/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 07 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Kim T năm 1975. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Hữu T1 năm 1973. Địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Trần Kim T2 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Bà Trần Kim T2 và ông Lê H T1 tự quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn năm 2008 do Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang chứng nhận. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu ly hôn ông T3.
Về quan hệ con chung: Trong thời gian sống chung vợ chồng bà T4 ông T1 có hai con chung tên Lê Thị Tường V, sinh ngày 25/11/1996 và Lê Hữu D ngày 09/07/2004. Hiện nay hai con chung đã thành niên, có cuộc sống riêng, không phụ thuộc vào cha mẹ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Hữu T5 mặt, không có ý kiến trình bày đối với các yêu cầu khởi kiện của bà T, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bà Trần Kim T6 đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, ông Lê Hữu T5 mặt.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại phiên tòa. Đối với nguyên đơn bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Riêng bị đơn ông T1 vắng mặt không đến Tòa án giải quyết là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ nên ông phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự có trong hồ sơ vụ án xét thấy:
Về hôn nhân và gia đình: Quá trình giải quyết Tòa án tiến hành hòa giải để hàn gắn quan hệ hôn nhân của bà T và ông T3, bà T cương quyết ly hôn. Xét mâu thuẫn giữa ông bà đi đến trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà T là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Có hai con chung tên Lê Thị Tường V1 năm 1996 và Lê Hữu D1, sinh năm 2004. Các con đã thành niên có khả năng tự lập về tài chính nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ những tình tiết và chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim T2 được ly hôn với ông Lê Hữu T7. Về con chung, các con đã thành niên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản và nợ chung không yêu cầu nên không xét đến.
Về án phí buộc bà Trần Kim T8 chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Kim T2 và ông Lê Hữu T9 đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn (bản chính) số: 196, ngày 19/09/2008 do Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang chứng nhận. Bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T7; ông T1 cư trú tại xã M, thành phố L, tỉnh An Giang nên căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà T và ông T7 là “Tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bà Trần Kim T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Lê Hữu T5 mặt không có lý do, không có đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông T7 vắng mặt. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
[3] Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà Trần Kim T2 và ông Lê Hữu T7 kết hôn trên cơ sở tự nguyện của cả hai, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn (bản chính) số 196, quyền số I/08, ngày 19/09/2008, được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nay, bà T và ông T1 phát sinh mâu thuẫn, bà T xin ly hôn nên Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Trong quan hệ hôn nhân và gia đình của bà T và ông T1 sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, không thể hàn gắn do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, không còn tình cảm, yêu thương, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Trong thời gian giải quyết bà T luôn tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T7.
[5] Xét, hôn nhân giữa bà T và ông T7 phát sinh nhiều mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, thực hiện các công việc trong gia đình, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Hiện nay, bà T không còn tình cảm với ông T7, không yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ khó khăn trong cuộc sống và chăm lo hạnh phúc gia đình. Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, ông T1 vắng mặt, không trình ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T tức là ông đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của ông đã được pháp luật quy định. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà T10 ly hôn với ông T7.
[6] Về quan hệ con chung: Bà Trần Kim T2 và ông Lê H T1 có hai con chung tên Lê Thị Tường V1 ngày 25/11/1996 và Lê Hữu D ngày 09/07/2004. Hiện nay, các con chung đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân, không phụ thuộc vào cha mẹ nên không yêu cầu giải quyết. Do đó, không xét đến.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[8] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà T nộp tiền án phí 300.000đ, trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án số 0001821, ngày 29 tháng 03 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, bà T đã nộp đủ; ông T1 không nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 8, 9, 19, 51, Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 179; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim T2 được ly hôn với ông Lê Hữu T7.
Về quan hệ con chung: Bà Trần Kim T2 và ông Lê H T1 có hai con chung tên Lê Thị Tường V, sinh ngày 25/11/1996 và Lê Hữu D1, sinh ngày 09/07/2004. Các con chung đã thành niên, có cuộc sống riêng, không phụ thuộc vào cha mẹ, không yêu cầu nên không giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Kim T2 nộp số tiền 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng), trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001821 ngày 29/03/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông Lê Hữu T11 nộp án phí.
Bà Trần Kim T12 Lê Hữu T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của bà T, ông T7.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Phương |
Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ
