|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2024/HS-PT Ngày: 26-9-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Văn Út
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trọng Quế
Ông Trịnh Xuân Miễn
Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Khả Khiêm, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Trúc Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Giả Thanh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2024/HS-ST ngày 22 – 7 – 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Giả Thanh T, sinh ngày 01/01/1989 tại huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp L, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giả Văn C và bà Mai Thị Kim H; vợ: Nguyễn Tuyết H1, con: 02 người; tiền án, tiền sự: Không; khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 15/01/2024; (bị cáo tại ngoại có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Ngô Ngọc T1 thuộc Văn phòng L1 (Đoàn Luật sư tỉnh C), (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Giả Văn C, sinh năm 1954; nơi cư trú: Ấp L, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 9 giờ 30 phút ngày 07/5/2023 Tổ tuần tra kiểm soát Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số B (PC08 Công an tỉnh C) tuần tra trên tuyến Quốc lộ A thuộc ấp T, xã H, huyện C theo hướng C - Cà Mau đã ra tín hiệu yêu cầu dừng phương tiện xe mô tô biển số kiểm soát 94B - 625.54 do Giả Thanh T điều khiển để kiểm tra. Lúc này T xuất trình giấy phép lái xe hạng A1, số [...], mang tên Giả Thanh T ngày 08/01/2014. Qua kiểm tra lực lượng Cảnh sát giao thông phát hiện giấy phép lái xe trên không do cơ quan có thẩm quyền cấp nên đã tiến hành lập biên bản niêm phong đồng thời chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để điều tra theo quy định.
Quá trình điều tra đã chứng minh được: Vào năm 2014 ông Giả Văn C là cha ruột của Giả Thanh T đến khu vực Cầu S, huyện V, tỉnh Bạc Liêu để mua phương tiện xe mô tô cũ về sử dụng. Tại đây, qua sự giới thiệu của người bán xe, ông C gặp một người thanh niên không rõ họ tên và địa chỉ hỏi mua giấy phép lái xe hạng A1 với giá 1.500.000 đồng. Người này yêu cầu ông C cung cấp thông tin, hình ảnh người cần làm giấy phép lái xe nên ông C đã đưa thông tin và hình ảnh của Giả Thanh T đồng thời đặt cọc cho người thanh niên này số tiền 200.000 đồng, hẹn 01 tháng sau đến nhận giấy phép lái xe. Đến thời gian đã hẹn, ông C đến nhận một giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Giả Thanh T do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp và kèm theo một bộ hồ sơ trong đó gồm 01 biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe, 01 giấy chứng nhận sức khỏe (có chữ ký của bác sỹ Nguyễn Thị O và bác sỹ Võ Văn L cùng con dấu của Bệnh viện đa khoa huyện Đ) và 01 đơn xin học, thi lấy giấy phép lái xe, tất cả đều không ghi tên. Ông C trả đủ số tiền còn lại là 1.300.000 đồng, sau đó ông C đưa cho Giả Thanh T quản lý sử dụng giấy phép lái xe trên. Thích biết rõ đây là giấy phép lái xe giả không được sử dụng, nếu sử dụng giấy phép lái xe giả là hành vi trái pháp luật và bị nghiêm cấm nhưng Giả Thanh T vẫn sử dụng cho đến khi bị phát hiện và thu giữ. Mục đích của T là để đối phó, qua mặt lực lượng Cảnh sát giao thông khi bị kiểm tra.
Tại Bản kết luận giám số 459/KL-KTHS ngày 01/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận:
- “GIẤY PHÉP LÁI XE/DRIVER'S LICENSE” hạng A1, số: [...], họ tên Giả Thanh T, ngày 08/01/2024 (Ký hiệu A1) là giả. Được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.
- Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “SO Y TE” * “TỈNH BẠC LIÊU” * “BỆNH VIỆN ĐA KHOA H. ĐÔNG HẢI” trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A2) không phải do con dấu có hình dấu mẫu trên tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu M2) đóng ra.
- Chữ ký, phía dưới chữ ký có họ tên Võ Văn L, dưới mục “Trưởng đoàn khám” trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A2) là chữ ký sao chụp.
Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 giấy phép lái xe hạng A1, số I, tên Giả Thanh T, sinh năm 1987; nơi cư trú: xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 08/01/2014 chuyển Chi cục Thi hành án dân sự tiếp tục quản lý theo quy định.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2024/HS-ST ngày 22 – 7 – 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 105; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Giả Thanh T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Xử phạt: Bị cáo Giả Thanh T 03 (ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 31/7/2024, bị cáo Giả Thanh T kháng cáo xin hưởng án treo.
-
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Giả Thanh T thay đổi kháng cáo xin cải tạo không giam giữ.
- Luật sư T1: Đề nghị cho bị cáo cải tạo không giam giữ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau: Đề nghị áp dụng Điều 36, áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ khác khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo; đề nghị cho bị cáo hưởng mức án cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Đối với ông Giả Văn C có hành vi đồng phạm với bị cáo Giả Thanh T, nhưng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Giả Văn C đã không còn. Từ đó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Giả Thanh T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2024/HS-ST ngày 22 – 7 – 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau đã quyết định.
- Lời nói sau cùng: Bị cáo xin cải tạo không giam giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tội danh: Khoảng năm 2014, do bị cáo Giả Thanh T có nhu cầu làm giấy phép lái xe mô tô hạng A1, do không biết chữ nên ông Giả Văn C (cha ruột bị cáo) đặt một người thanh niên (không rõ lai lịch) làm 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 với giá 1.500.000 đồng. Sau khi có được giấy phép lái xe giả ông C đưa cho bị cáo T sử dụng đến ngày 07/5/2023, T đang điều khiển xe mô tô có biển số 94B - 625.54 trên tuyến Quốc lộ A thuộc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau bị lực lượng Cảnh sát giao thông dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra người điều khiển phương tiện là Giả Thanh T (sinh ngày 01/01/1989, nơi cư trú ấp L, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu), T xuất trình được đầy đủ giấy tờ có liên quan đến phương tiện và giấy phép lái xe hạng A1; kết quả kiểm tra phát hiện giấy phép lái xe hạng A1 của T sử dụng là giả nhằm lừa dối lực lượng làm nhiệm vụ. Theo kết luận giám định số: 459/KL-KTHS ngày 01/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh C cũng xác định giấy phép lái xe trên là giả. Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo Giả Thanh T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
- Xét kháng cáo xin cải tạo không giam giữ của bị cáo T. Thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý hành chính của Nhà nước. Khi lượng hình, án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, tuyên xử dưới khung hình phạt, cách ly bị cáo bằng hình phạt tù 03 tháng là đã khoan hồng cho bị cáo. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo; cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm là phù hợp.
- Luật sư và Đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo Giả Thanh T hưởng mức án cải tạo không giam giữ. Đối với ông Giả Văn C có hành vi đồng phạm với bị cáo Giả Thanh T, nhưng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Giả Văn C đã không còn, nên Viện kiểm sát đề nghị không xử lý ông C là phù hợp.
- Do kháng cáo không được chấp nhận, nên Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Giả Thanh Thích. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2024/HS-ST ngày 22 – 7 – 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau đã quyết định.
Xử phạt: Bị cáo Giả Thanh T 03 (ba) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Giả Thanh T phải chịu 200.000 đồng.
- Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Huỳnh Văn Út |
Bản án số 92/2024/HS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (vụ án hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 92/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Vụ án hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Giả Thanh Thích phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
