Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 92/2024/HS-PT

Ngày: 26 – 4 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
  • Các Thẩm phán: Ông Lê Hồng Nước.
  • Ông Nguyễn Ngọc Thông.
  • - Thư ký phiên tòa:
  • Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
  • Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý phúc thẩm số 316/2023/TLPT-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Trịnh Thị K, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2023/HS-ST ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có kháng cáo:

Trịnh Thị K, sinh năm 1966 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nữ; nơi cư trú: Số B, ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; con ông Trịnh Văn Y và con bà Ngô Thị H; bị cáo có chồng và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm giữ: Không; tạm giam: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại (có mặt tại phiên toà).

- Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Thị K:

Luật sư Mai Ngọc T– Văn phòng Luật sư Mai Ngọc T thuộc đoàn Luật sư tỉnh A (có mặt).

Địa chỉ: Đường T, ấp L, thị trấn C, tỉnh An Giang.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại Phan Thị Cẩm V không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trịnh Thị K cùng con gái ruột tên Trịnh Thị Thanh T1 hiện đang sinh sống tại số nhà B ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Chị Phan Thị Cẩm V là cháu gọi bị cáo K bằng dì ruột. Nhà của chị V ở phía trước nhà của bị cáo K. Trong quá trình sinh hoạt hàng ngày giữa hai gia đình bị cáo KV thường xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau.

Vào khoảng 07 giờ, ngày 08/3/2023, bị cáo Trịnh Thị K cùng con rể tên Hồ Văn V1 (chồng của Trịnh Thị Thanh T1) đang sửa chữa đường dây điện và dự định kéo từ ngoài đường đal ngang nhà chị Phan Thị Cẩm V để dẫn điện vào nhà của bị cáo K, thì chị V không đồng ý, nên bị cáo K với chị V cự cãi nhau. Nghe tiếng bị cáo K cãi nhau với chị V, thì chị T1 đang cho con ăn sáng trong nhà đi ra xem và tham gia cãi nhau với chị V. Lúc này, chị T1 ném chén cháo đang cầm sẵn trên tay về hướng chị V đang ngồi rửa chén trước nhà nhưng không trúng. Chị V ném tô và hất nước lại phía chị T1 đứng nhưng không trúng. Chị T1 bực tức nên đi đến chỗ chị V dùng tay dời và làm gãy ống nước rửa chén của chị V, chị V liền dùng tay phải đánh một cái trúng vào đầu của chị T1. Theo lời khai của chị V thì lúc này chị nhìn thấy bị cáo K hai tay đã cầm sẵn 01 đoạn gạch thẻ có kết dính bê tông dài 41cm, trọng lượng 03kg đi đến đứng đối diện đánh 01 cái trúng vào vùng mặt của chị V gây thương tích. Nhưng lời khai của bị cáo K thì bị cáo vào can ngăn thì bị V đánh vào đầu té ngã, chị V tiếp tục đè và dùng tay đánh, cào cấu vào mặt bị cáo nên bị cáo quơ tay chụp lấy đoạn gạch thẻ có dính bê tông gần đó đánh 01 cái trúng vào mặt của chị V gây thương tích rồi ném bỏ đoạn gạch tại hiện trường gần bụi bông trang.

Lời khai của chị Trịnh Thị Thanh T1: Sau khi bị chị V đánh, chị T1 dùng tay xô chị V ra thì bị anh Phan Văn S là con ruột của chị V chạy đến kéo cổ lôi ngược ra sau nên cả 04 người cùng bị té ngã nằm chồng lên nhau, S nằm dưới cùng rồi đến chị T1 nên chị T1 không thấy bị cáo K gây thương tích cho chị V, nên không biết bị cáo K gây thương tích cho chị V khi nào.

Lời khai của Phan Văn S: Trong nhà nghe cãi nhau bên ngoài nên chạy ra nhìn thấy chị T1 đang nắm tóc chị V là mẹ của anh S kéo xuống nên anh S chạy đến dùng tay nắm tóc chị T1 kéo ra thì bị chị T1 cắn 02 cái vào tay của anh S gây thương tích. Anh S, chị T1, chị V và bị cáo K giằng co nhau té ngã xuống lề đường đal, anh S bị chị T1 nằm đè lên người. Anh S cũng không biết bị cáo K gây thương tích cho chị V khi nào.

Anh Huỳnh Thái K1 nhà gần đó nghe tiếng la lớn nên chạy đến can ngăn, thấy anh S nằm ngửa người dưới đất tay nắm đầu tóc chị T1 và bị chị T1 nằm ngửa đè lên người, tay chị T1 nắm đầu tóc của chị V kéo xuống, bị cáo K thì ngồi nghiêng người nắm tóc chị V, chị V thì đứng khom lưng bị KT1 nắm tóc kéo xuống. Anh K1 đi đến dùng tay nắm vai chị V kéo ra nhưng không được do chị V bị T1K nắm chặt. Thấy vùng mặt và mũi của chị V chảy nhiều máu, anh K1 truy hô mọi người buông ra. Lúc này, K nói “Buông là buông ra hết” thì tất cả đều buông tay ra.

Sau khi được mọi người can ra thì chị V được đưa đến Trung tâm y tế huyện L cấp cứu và điều trị đến ngày 13/3/2023 thì xuất viện về nhà. Bị cáo K và chị T1 cũng đến Trung tâm y tế huyện L khám rồi về nhà trong ngày. Anh Phan Văn S nhặt đoạn gạch thẻ có kết dính bê tông đã bị vỡ ra làm 02 đoạn (Một đoạn có 01 viên gạch được kết dính bê tông có kích thước 18cm x 7,5cm, trọng lượng 1,3kg; một đoạn có 01 viên gạch được kết dính bê tông có kích thước 23cm x 11cm, trọng lượng 1,7kg) đến Công an xã M, huyện L trình báo vụ việc và giao nộp viên gạch dính bê tông là hung khí Kiển gây thương tích cho V để điều tra làm rõ.

Đến ngày 22/3/2023, chị Phan Thị Cẩm V viết đơn gởi đến Công an huyện L yêu cầu xử lý hình sự đối với Trịnh Thị K về hành vi cố ý gây thương tích đối với chị V. Ngày 27/4/2023, chị Phan Thị Cẩm V có đơn xin bãi nại. Ngày 23/5/2023, chị Phan Thị Cẩm V có đơn gởi đến Công an huyện L yêu cầu xử lý hình sự đối với Trịnh Thị K về hành vi cố ý gây thương tích đối với chị V và yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 155/KLTTCT-TTPYĐT ngày 10/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận đối với chị Phan Thị Cẩm V như sau:

  • - Kết quả khám giám định: 03 sẹo vết thương phần mềm vùng trán trái, gốc mũi giữa 02 mắt, sống mũi trái, kích thước nhỏ. Mỗi sẹo 03%; 02 vết biến đổi sắc tố da vùng gốc mũi, dưới hốc mắt trái. Mỗi vết 01%; gãy xương chính mũi, can liền tốt. Tỷ lệ tổn thương 08%; gãy thành trước xoang hàm trái không di lệch. Tỷ lệ tổn thương 08%.
  • - Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Phan Thị Cẩm V tại thời điểm giám định là 24% (Hai mươi bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  • - Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật tày có cạnh gây ra. Cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động gây ra.

Tại biên bản nhận dạng ngày 21/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thể hiện: Bị cáo Trịnh Thị K xác định 02 viên gạch được kết dính bằng bê tông có thể ghép khớp thành 01 đoạn gạch dài 41cm, trọng lượng 03kg là hung khí bị cáo K dùng để gây thương tích cho chị Phan Thị Cẩm V vào ngày 08/3/2023.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Trịnh Thị K đã bồi thường cho bị hại V 26.000.000 đồng và bị hại V đã làm đơn bãi nại vào ngày 27/4/2023. Đến ngày 23/5/2023 và ngày 14/6/2023, chị V tiếp tục gửi đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo K và yêu cầu bị cáo K bồi thường chi phí điều trị là 11.281.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần là 45.000.000 đồng, tiền công bị mất do nằm viện là 1.200.000 đồng, tiền ngày công lao động trong 90 ngày là 18.000.000 đồng, tiền ngày công lao động của người nuôi bệnh trong 06 ngày nằm viện là 3.000.000 đồng. Tổng số tiền là 78.481.000 đồng. Bị cáo K đã bồi thường 26.000.000 đồng, còn lại số tiền 52.481.000 đồng chị V yêu cầu bị cáo K tiếp tục bồi thường.

Bị cáo Trịnh Thị K chỉ thống nhất bồi thường cho chị V tiền tổn thất tinh thần 3.000.000 đồng, tiền ăn uống bồi dưỡng sức khỏe 1.000.000 đồng, tiền ngày công lao động 1.000.000 đồng, chi phí điều trị bệnh 21.000.000 đồng. Tổng cộng là 26.000.000 đồng và đã bồi thường xong. Bị cáo không thống nhất theo yêu cầu bị hại bồi thường thêm 52.481.000 đồng.

Qua điều tra, chị Trịnh Thị Thanh T1 trình bày bị anh Phan Văn S dùng tay đánh vào mặt bị sưng và gãy răng. Anh Phan Văn S trình bày bị chị Trịnh Thị Thanh T1 dùng răng cắn. Bị cáo Trịnh Thị K trình bày bị chị V dùng tay đánh trúng trán. Nhưng chị T1, anh S và bị cáo K thương tích không đáng kể nên không yêu cầu giám định và không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.

Đối với chị Trịnh Thị Thanh T1 có hành vi dùng tay nắm tóc của chị V sau khi bị cáo K đã gây thương tích cho chị V xong. Xét thấy, tại thời điểm bị cáo K dùng hung khí đánh chị V gây thương tích thì chị T1 không biết cũng không tham gia, nên hành vi của T1 không đồng phạm với bị cáo K về tội “Cố ý gây thương tích".

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2023/HS-ST ngày 03/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Lấp Vò đã quyết định:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trịnh Thị K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trịnh Thị K 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587 và Điều 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Buộc bị cáo Trịnh Thị K bồi thường tiếp cho chị Phan Thị Cẩm V số tiền là 11.281.000 đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền, nghĩa vụ của các bên khi thi hành án dân sự, quyết định về vật chứng, án phí và nêu quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đến ngày 11/10/2023, bị cáo Trịnh Thị K kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trịnh Thị K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện như nội dung Bản án sơ thẩm nhận định, thừa nhận Bản án sơ thẩm kết án bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan sai. Bị cáo giữ nguyên kháng cáo, xin Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét, bị cáo xuất trình tài liệu mới để xin hưởng án treo là bị cáo đã tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 11.281.000 đồng, nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng, nộp án phí dân sự sơ thẩm là 564.000 đồng. Vậy, bị cáo đã thi hành xong việc bồi thường dân sự, các khoản án phí theo quyết định của Bản án sơ thẩm. Bị cáo cho rằng có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là người tuổi già, sức yếu thường hay đau ốm, có bệnh hen suyễn, viêm phổi.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm phân tích các tình tiết và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đánh giá quá trình xét xử tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và khẳng định việc Tòa án nhân dân huyện Lấp vò, tỉnh Đồng Tháp tuyên án bị cáo Trịnh Thị K phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan, sai. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù. Nay bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo và có cung cấp thêm các chứng cứ chứng minh bị cáo đã bồi thường cho bị hại xong, thi hành các khoản án phí xong. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và hình phạt đã tuyên 02 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện. Vì vậy, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa Luật sư Mai Ngọc T bào chữa cho bị cáo Trịnh Thị K phát biểu: Luật sư thống nhất với quan điểm của các Cơ quan tiến hành tố tụng về tội danh đối với bị cáo. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét các tình tiết giảm nhẹ mới mà bị cáo xuất trình tại Toà án cấp phúc thẩm là đã bồi thường thiệt hại cho bị hại xong, bị cáo thi hành xong các khoản án phí, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo do bị cáo phạm tội có 01 phần lỗi của bị hại, bị cáo đã tích cực bồi thường cho bị hại, bị cáo đã già, sức khoẻ yếu kém, nhận thức pháp luật của bị cáo còn hạn chế, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của địa phương nơi cư trú.

Tại phần tranh luận, bị cáo Trịnh Thị K đặt câu hỏi vì sao bị hại đã rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án mà bị hại lại nói với người khác là bị cáo làm đơn thưa bị hại, vì sao bị hại đã rút đơn rồi mà lại làm đơn thưa bị cáo nữa. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện tại ngoại điều trị bệnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trịnh Thị K đã thừa nhận hành vi phạm tội được nêu trong Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2023/HS-ST ngày 03/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp là đúng với hành vi của bị cáo. Xuất phát từ mâu thuẫn bị cáo K và con rễ kéo đường dây điện ngang nhà bị hại V nên xảy ra xô xát, bị cáo K đã dùng 01 đoạn gạch thẻ có kết dính bê tông dài 41cm, trọng lượng 03kg là hung khí nguy hiểm đánh 01 cái trúng vào vùng mặt của chị Phan Thị Cẩm V gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 24%. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Trịnh Thị K phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

[2] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, có xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và xem xét các tình tiết giảm nhẹ: “Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại” được số tiền là 26.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại tại quá trình điều tra, bị cáo “thành khẩn khai báo” theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại Toà án cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, bị cáo có cung cấp Biên lai thu tiền số 0001268 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò thể hiện bị cáo có tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 11.281.000 đồng, thi hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 564.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm (đã nộp số tiền 12.045.000 đồng). Vậy, bị cáo đã thi hành xong trách nhiệm bồi thường dân sự và các khoản án phí mà Bản án sơ thẩm đã tuyên. Ngoài ra, bị cáo còn khai rằng đã lớn tuổi, mang nhiều bệnh. Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận các nội dung trên là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, riêng tình tiết bị cáo thi hành xong án phí không xem là tình tiết giảm nhẹ vì đây là nghĩa vụ mà bị cáo phải chấp hành.

Mặc dù bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng xét tính chất, mức độ hậu quả gây ra từ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật, mức hình phạt 02 năm tù cũng là mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo vi phạm, trường hợp phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

[3] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận; không chấp nhận phát biểu của Luật sư bào chữa cho bị cáo, lý do đã phân tích ở trên.

[4] Do kháng cáo của bị cáo Trịnh Thị K không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Bị cáo đã nộp xong tiền bồi thường cho bị hại và các khoản án phí mà Bản án sơ thẩm đã tuyên xử, nên bị cáo đã thi hành án xong các phần này. Tiếp tục quản lý số tiền 12.045.000 đồng mà bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò tại Biên lai thu số 0001268 ngày 13/10/2023 để bảo đảm thi hành án.

[6] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trịnh Thị K.

    Giữ nguyên quyết định của Bản án Hình sự sơ thẩm số 64/2023/HS-ST ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với bị cáo Trịnh Thị K.

  2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Trịnh Thị K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt bị cáo Trịnh Thị K 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

  3. Về bồi thường dân sự và án phí sơ thẩm:

    Bị cáo đã nộp xong số tiền 11.281.000 đồng bồi thường cho bị hại, nộp xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 564.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo đã thi hành án xong các phần này theo quyết định của Bản án sơ thẩm. Tiếp tục quản lý số tiền 12.045.000 đồng mà bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò tại Biên lai thu số 0001268 ngày 13/10/2023 để bảo đảm thi hành án.

  4. Về án phí hình sự phúc thẩm:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Trịnh Thị K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  5. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC- Vụ Giám đốc kiểm tra 1;
  • - Ban Nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TA. Huyện Lấp Vò;
  • - VKS-THADS huyện Lấp Vò;
  • - CQCSĐT Công an huyện Lấp Vò;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA.TA Tỉnh;
  • - Lưu: VT, HSVA (Loan).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 92/2024/HS-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 92/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh thị Kiển, bị xét xử về tội Cố ý gây thương
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger