|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN Bản án số: 92/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/4/2024 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Lin.
- Bà Trần Thị Đổi
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích L, sinh năm 1986.
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1983.
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Bích L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Do quen biết và được gia đình hai bên đồng ý, nên bà và ông C đã xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An năm 2006.
Sau khi cưới vợ chồng sống tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, nhưng khoảng vài tháng sau khi cưới thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do ông C cờ bạc, không lo làm ăn, gây nợ nhiều lần. Bà đã cố gắng khuyên nhủ, mong chồng thay đổi để cùng nhau xây dựng gia đình, chăm lo cho các con, nhưng không có kết quả. Mặc dù hiện nay cả hai vẫn còn sống chung nhà, nhưng không quan tâm lẫn nhau, ai cũng có cuộc sống riêng. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bích L1, sinh ngày 26/11/2004 và Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 23/10/2009. Cháu L1 đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, đối với cháu Đ1 khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 10/4/2024 trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà L về quá trình xác lập quan hệ vợ chồng, thủ tục đăng ký kết hôn. Ông cũng thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn do ông cờ bạc, không lo làm ăn, không chăm sóc vợ con, làm cho cuộc sống gia đình không hạnh phúc, ông cũng đã nhiều lần hàn gắn tình cảm với vợ, nhưng không được sự tha thứ của bà L, nay bà L yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý vì ông còn thương vợ con, không muốn con phải thiếu thốn tình cảm của cha hoặc mẹ.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bích L1, sinh ngày 26/11/2004 và Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 23/10/2009. Cháu L1 đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết, đối với cháu Đ1 khi ly hôn ông đồng ý để bà L được nuôi con, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Lê Thị Bích L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn C, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn”, thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
[2]. Về việc tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án: Bà Lê Thị Bích L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn C, xác định bà L là nguyên đơn, ông C là bị đơn.
[3]. Xét yêu cầu ly hôn của bà L:
Bà L ông C xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn:
Bà L trình bày về nguyên nhân mâu thuẫn là do ông C cờ bạc, không lo làm ăn, không chăm sóc vợ con, thiếu trách nhiệm với gia đình, bà đã tạo cơ hội để hàn gắn tình cảm, nhưng ông C không có thiện chí để cùng bà tiếp tục xây dựng gia đình, hiện nay mặc dù vợ chồng còn sống chung nhà nhưng cả hai không quan tâm nhau, ai cũng có cuộc sống riêng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông C cũng thừa nhận những khuyết điểm của bản thân đã làm cho cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà L trình bày là không còn tình cảm với chồng, cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được và mong Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C. Ông C không muốn ly hôn, nhưng không đưa ra được phương án để bà L quay về chung sống. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông C bà L đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bích L1, sinh ngày 26/11/2004 và Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 23/10/2009. Cháu L1 đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ông C, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với cháu Đ khi ly hôn bà L yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chồng cấp dưỡng và ông C cũng đồng ý, nên Hội đồng xét xử giao con chung tên Nguyễn Trọng Đ cho bà L nuôi dưỡng, ông C không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông C bà L không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà L, ông C xác định nợ chung không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Bích L đối với ông Nguyễn Văn C.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Bích L được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
[2]. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bích L1, sinh ngày 26/11/2004 và Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 23/10/2009. Cháu Nguyễn Thị Bích L1, sinh ngày 26/11/2004 đã trưởng thành Tòa án không giải quyết. Giao con chung tên Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 23/10/2009 cho bà Lê Thị Bích L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, ông Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích con chung, Tòa án có thể ra quyết định thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng khi có yêu cầu của một hoặc hai bên.
Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
[4]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Bích L phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006233 ngày 15/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, Long An. Bà Lê Thị Bích L đã nộp xong án phí.
[5]. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo đối với bản án: Án xét xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
[6]. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Hiền |
Bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA - TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 92/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA - TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Bích L ly hôn Nguyễn Văn C
